Tin mới:   
Sự nghiệp cách mạng 22.06.2018 16:19
Giai đoạn 1945 - 1954
05.09.2011 21:48

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO CUỘC ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN TA GIỮ VỮNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG, KHÁNG CHIẾN LÂU DÀI CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC VÀ CAN THIỆP MỸ (1945 - 1954).

Vừa mới giành được chính quyền, nhân dân ta phải đối phó với tình hình cực kỳ khó khăn, phức tạp. Nạn đói khủng khiếp do phát xít Nhật và thực dân Pháp gây ra đã làm hơn 2 triệu người chết. Kinh tế tài chính quốc gia hầu như kiệt quệ. Trong khi đó ở miền Bắc 20 vạn quân Tưởng thừa lệnh Mỹ kéo sang Việt Nam, mượn cớ tước vũ khí quân đội Nhật, kỳ thực nhằm âm mưu tiêu diệt Đảng và nhà nước ta. Đồng thời bọn phản động trong nước như Việt quốc, Việt Cách... đòi thay đổi thành phần chính phủ và đòi Chủ tịch Hồ Chí Minh phải từ chức... Còn ở miền Nam, được quân đội Anh che chở, thực dân Pháp quay trở lại đánh chiếm nước ta một lần nữa.

Đứng trước vận mệnh nước nhà như “ngàn cân treo sợi tóc” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận lấy trách nhiệm nặng nề trước nhân dân:“Phận sự tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bến bờ hạnh phúc của nhân dân”.

Ngày 03/09/1945, chủ toạ phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ, Người nêu ra 6 nhiệm vụ cấp bách cần phải giải quyết: Chống nạn đói, diệt nạn dốt, chuẩn bị tổ chức tổng tuyển cử, thực hành tiết kiệm, bài trừ mê tín dị đoan và hủ tục lạc hậu, bỏ ngay các loại thuế vô lý... Những công việc đó được chính phủ tán thành, tạo sự phấn khởi trong toàn thể nhân dân và đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp, tạo được niềm tin to lớn trong nhân dân.

Ngày 02/03/1946 Quốc Hội khoá I kỳ họp đầu tiên đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Chủ tịch Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm trực tiếp việc biên soạn dự thảo Hiến pháp.

Là người đứng đầu nhà nước, Người chú ý chăm sóc những thế hệ “mầm non” của đất nước. Trong thư gửi học sinh nhân dịp khai trường và thư gửi thiếu niên nhi đồng nhân dịp tết trung thu độc lập đầu tiên, Người đã giành nhiều tình thương yêu cho các cháu. Người viết: “Các em hãy nghe lời tôi, lời của một người anh lớn lúc nào cũng ân cần mong mỏi cho các em được giỏi giang. Trong năm học tới đây, các em hãy cố gắng, siêng năng học tập, ngoan ngoãn, nghe thầy yêu bạn. Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nhà nước mong chờ và trông đợi ở các em”.

Sau cách mạng tháng Tám, chúng ta phải cùng một lúc đối phó với nhiều kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng nhận rõ kẻ thù nguy hại nhất của nhân dân ta lúc này là bọn thực dân Pháp xâm lược. Để đối phó với kẻ thù Người đã đề ra những sách lược rất khôn khéo, tạm thời hoà hoãn với Tưởng để rảnh tay đối phó với Pháp, đồng thời tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp ở miền Nam. Nhưng đến đầu năm 1946, quân Tưởng đã thoả hiệp, cho quân Pháp kéo ra miền Bắc thay thế chúng. Trước tình hình nguy hiểm đó, Hồ Chủ tịch đã chuyển sang chủ trương tạm thời hoà hoãn với quân Pháp bằng “Hiệp định Sơ bộ ngày 06/03/1946”. Nhờ đó mà ta đã loại trừ được kẻ thù tạo thời gian để củng cố lực lượng.

Ngày 31/05/1946, Hồ Chủ tịch lên đường thăm nước Pháp với tư cách là thượng khách của chính phủ Pháp. Tại cuộc mitting của hơn 5 vạn đồng bào tiễn đưa Người ở Hà Nội, Người thiết tha nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân...”.

Trong những ngày ở thăm nước Pháp, Hồ Chủ tịch đã tiếp xúc với nhiều Đảng cộng sản và các tầng lớp nhân dân Pháp, gặp gỡ với Việt kiều, nhân sỹ, trí thức Việt Nam tại Pháp. Người tỏ rõ thiện chí hoà bình của nhân dân ta trên nguyên tắc bảo vệ chủ quyền và thống nhất đất nước. Do thái độ ngoan cố và hiếu chiến của chính phủ Pháp cuộc đàm phán của ta tại Fonteinebleau không thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định ký Tạm ước 14/09/1946 tại Pháp.

Sáng ngày 18/09/1946, Hồ Chủ tịch rời nước Pháp về Hà Nội. Ngày 23/10/1946 Người đã báo cáo với đồng bào cả nước biết kết quả chuyến sang Pháp của mình cùng phái đoàn chính phủ, Người nói: “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên...”.

Ngày 28/10/1946, Quốc Hội khoá I, kỳ họp thứ 2 đã nhất trí uỷ nhiệm Người lập chính phủ mới để lãnh đạo nhân dân bảo vệ nền độc lập, đồng thời Quốc Hội đã suy tôn Chủ tịch Hồ Chí Minh là người công dân thứ nhất của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.

Sau hàng loạt hành động khiêu khích trắng trợn bộc lộ mưu đồ cướp nước một lần nữa, ngày 18/12/1946 thực dân Pháp cho quân tiến vào Hà Nội đồng thời gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí của tự vệ và Công An ta. Đêm 19/12/1946, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta trong cả nước đã bùng nổ. Đêm đó tại thị xã Hà Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, lời của Người vang vọng khắp núi sông:

Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa.

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào ! Chúng ta hãy đứng lên!”

Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, nhân dân cả nước đã đứng dậy đánh giặc cứu nước. Nhiều đội quân thanh niên cảm tử đã được Hồ Chủ tịch biểu dương: “Các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu tinh thần tự tôn dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho giống nòi Việt Nam muôn đời về sau.”


Mùa xuân năm 1947, để tiện cho việc lãnh đạo cả nước kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên Việt Bắc. Trong cuộc sống đầy khó khăn, gian khổ, Người vẫn tỏ ra yêu đời, lạc quan, và tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng.

Ngày 11/06/1948, Người ra lời kêu gọi thi đua ái quốc: Thi đua diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm “mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, gái, trai; bất kỳ giàu, nghèo, lớn nhỏ đều phải trở nên một chiến sĩ đấu tranh trên các mặt trận: Quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, thực hiện khẩu hiệu: Toàn dân kháng chiến - Toàn diện kháng chiến.”
Là người đứng đầu Đảng và chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn tự nêu cao tấm gương vì nước quên mình. Năm 1949, nhân dịp Người tròn 59 tuổi, nhiều người đề nghị tổ chức mừng thọ cho Người, Người đã trả lời:

                               “Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà

                                Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già

                                Chờ cho kháng chiến thành công đã

                                Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta”

Trên cơ sở những thắng lợi đã giành được, để mở rộng và cũng cố khu căn cứ Việt Bắc nối liền nước ta với thế giới dân chủ. Tháng 09/1950, Hồ Chủ Tịch cùng Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch biên giới. Ngày 02/09/1950, Người chỉ thị cho các lực lượng vũ trang: “Chiến dịch Cao Bắc Lạng rất quan trọng, chúng ta quyết đánh thắng trận này”. Chấp hành chỉ thị của Người, các đơn vị bộ đội phát động cuộc vận động thi đua giết giặc lập công lấy thành tích dâng lên Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trung tuần tháng 09/1950, với bộ quân phục, ngày đêm trèo đèo lội suối, Người lên đường ra mặt trận và đã động viên tuổi trẻ:

                                  “Không có việc gì khó

                                    Chỉ sợ lòng không bền

                                    Đào núi và lấp biển

                                    Quyết chí ắt làm nên”

Sự có mặt của Hồ Chủ tịch ở mặt trận là nguồn động viên vô cùng to lớn đối với quân và dân ta tiến lên hoàn thành nhiệm vụ một cách vẻ vang.

Sau chiến thắng biên giới, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt nhằm đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tháng 02/1951 Đảng họp Đại hội đại biểu toàn quốc lần II, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đại hội ta là Đại hội kháng chiến. Nhiệm vụ chính của Đại hội là đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng lao động Việt Nam”.

Đánh giá thành tích của Đảng ta đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp trong hơn 20 năm qua, Đại hội đã trân trọng ghi nhận công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh:”... Dù ở nước ngoài hay trong nước, Người luôn luôn chăm sóc đến Đảng, rèn luyện Đảng thành một Đảng cách mạng kiểu mới của giai cấp công nhân... Đến mỗi bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam, ta thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh gạt tay lái một cách mau lẹ. Nhờ đó mà con tàu của Đảng vượt qua được bao cơn phong ba, bão táp, tránh được bao mỏm đá ghập ghềnh để lướt tới đích”. Đại hội cũng nhất trí bầu lại Hồ Chủ tịch làm Chủ tịch Đảng.

Để đập tan mọi cố gắng cuối cùng của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tháng 12/1953, Bác Hồ và Trung ương Đảng quyết định mở cuộc tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về mặt quân sự mà còn cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”.

 

Bác Hồ trực tiếp ra mặt trận trong chiến dịch Biên giới
 

Với quyết tâm cắm lá cờ quyết chiến, quyết thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh lên sở chỉ huy địch, quân dân ta chiến đấu vô cùng anh dũng, bao vây, khống chế địch ở mặt trận. Đến ngày 7/5/1954, quân dân ta đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Điện Biên Phủ, lá cờ quyết chiến - quyết thắng đã tung bay trên bầu trời Điện Biên Phủ. Chiến thắng ấy được ghi vào lịch sử như một Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa của thế kỷ XX, và đã đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống chủ nghĩa đế quốc.

Chiến thắng Điện Biên Phủ và thắng lợi của Hiệp định Giơ - ne - vơ đã “Chứng minh thiên tài lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và trí thông minh, trình độ già dặn của người dân Việt Nam, khéo tiến, khéo thoái, lúc mềm, lúc cứng, lấy nhỏ đánh to, lấy sức yếu đánh sức mạnh, quyết tâm và tin tưởng đến thắng lợi cuối cùng”. Từ đó cái tên “Việt Nam - Hồ Chí Minh” trở thành khẩu hiệu chiến đấu của các dân tộc bị áp bức, được nhân dân thế giới nhắc đến với niềm tự hào và cảm phục.

---------------

Theo website "Bác cùng chúng cháu hành quân" của Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên Huế.





Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


  Những bản tin khác:




 Học tập và làm theo lời Bác 

 Tìm kiếm 
Tìm trên trang Bác Hồ với Huế
Tìm bằng Google
 Tìm hiểu về Đảng - Chính phủ 

 Tìm hiểu về Bác Hồ 
 Lời dạy của Bác 
Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ:

Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.
Hồ Chí Minh.
 Huế xưa và nay 






 CA KHÚC VỀ BÁC HỒ 

 THƯ VIỆN VIDEO 

 Liên kết website 
 Thông tin liên hệ 
 Số lượt truy cập 
   Tổng lượt truy cập 674799
    Hiện tại có 1 khách
Trang chủ    ¤   Ý kiến của bạn    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Tải Files