Tin mới:   
Truyện Búp sen xanh 18.06.2018 16:31
Tiểu thuyết Búp sen xanh; Chương I: Thời thơ ấu, phần 12
30.08.2011 22:16

Tiểu thuyết Búp sen xanh của nhà văn Sơn Tùng gồm 3 chương; 30 phần đã viết về Thời niên thiếu của Bác Hồ từ khi là cậu bé Nguyễn Sinh Cung ở quê nhà Nghệ An; cùng gia đình vào kinh đô Huế sống và học tập đến khi trở thành anh thanh niên Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước.

Phần 12
 

Chôn cất bà ngoại xong, Côn được cha dẫn đi thăm các bạn thân trước ngày ông phải vào kinh đô nhận chức. Cũng dịp này, Phan Bội Châu đã lập Duy Tân Hội (5-1904).

Những người đề xướng, sáng lập ra Duy Tân Hội có Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân, Nguyễn Hàm, Nam Xưng, Lê Võ... Các nhà sáng lập Duy Tân Hội đã mời Cường Đế làm hội trưởng để rồi đưa sang Nhật cầu viện.

Trong một thời gian ngắn, ảnh hưởng của Duy Tân Hội đã phát triển rất rộng lớn trong nước. Hầu hết các nhà danh nho, các nhà hằng tâm hằng sản có tinh thần yêu nước đều tham gia vào Hội, hoặc ủng hộ Hội tiền của để hoạt động.

Quan Phó bảng Sắc là bạn chí thân của Phan Bội Châu, nhưng ông không tham gia Duy Tân Hội. Ông không tỏ thái độ tán thành mà cũng không phản đối con đường của Phan Bội Châu. Ông thường trao đổi với Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý về những nỗi đau mất nước. Ông quan niệm : Cơ trời vận nước bao dâu bể, một chí càn khôn khó chuyển vần. Sự nghiệp thượng y y quốc, lớp người hiện thời như ông chưa thực hiện được mà phải thế hệ sau, con cháu mới có thể gánh vác được công việc lớn lao ấy. Cho nên, ông chỉ có thể làm phần việc trung y y dân.

Côn thường được nghe cha đàm đạo những quan niệm ấy với Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý. Côn còn làm cái công việc liên lạc giữa Phan Bội Châu với những bạn đồng tâm đồng chí của ông và với cha mình. Có lần Côn nghe cha hỏi ông Phan :

- Mục đích của Hội Duy Tân là gì?

- Cái đích lớn của chúng ta là : Quét sạch bọn Tây dương ra khỏi bờ cõi. Có làm được như vậy ta mới có cơ hội xây đắp nên một nước Việt Nam mới, ngang hàng với các nước trên hoàn cầu.

- Đó là nguyện vọng của hai mươi triệu (48) con cháu Lạc Hồng chúng ta. Nhưng lấy cái gì, dựa vào đâu để cái mục đích ấy thành đạt được?

- Chúng ta nhờ nước Nhật tân tiến giúp đỡ.

- Không phải đâu anh San ạ. Vọng ngoại tất vong. (49)

- Dù mục đích của bước đường tranh đấu không thành đạt, thì ta cũng phải dấn thân... Sinh vi nam tử yếu hy kỳ, khẳng hứa càn khôn tự chuyển di... Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế, hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si.... (50)

Sau cuộc bàn luận giữa cha và Phan Bội Châu, Côn trăn trở nghĩ về những điều đã nghe được...

Nhân lúc trên đường cùng cha đi tiễn Phan Bội Châu, Côn "chiết tự” về mục đích của Hội Duy Tân mà Phan Bội Châu đã nói với cha. Côn viết lên bàn tay chữ “Vương” biến ra chữ "Tam", chữ "Tây" biến ra chữ "Tứ". Quan Phó bảng Sắc đọc những chữ đó trên tay con, nhưng chưa rõ là ý làm sao, hỏi :

- Con muốn nói gì về cách chiết tự này?

- Dạ thưa cha, con nghe chú giải San nói chuyện với cha về công việc "hội kín", trong đầu con bỗng lóe lên cái trò chiết tự, với nghĩa của nó là : Rút ruột vua (bỏ nét sổ), tam dân (51) bình đẳng. Chém đầu Tây (bỏ nét đầu) tứ chủng giai huynh. (52)

Quan Phó bảng Sắc sửng sốt nhìn con. Ông ngập ngừng giây lát, hỏi :

- Con có nghe ông giải San bàn việc đi cầu viện người Phù Tang (Nhật Bản) không?

- Dạ con có nghe và con cũng ngẫm nghĩ nhiều cái điều ấy cha ạ.

- Con thấy sao?

- Mưu phương, tầm kế cứu nước là vô cùng trọng đại. Đó là công việc của những người tai mắt, của các đấng trượng phu, của người lớn tuổi. Con còn non trẻ, chưa dám nghĩ tới những việc hệ trọng ấy. Nhưng con được nghe lỏm những lời bàn của cha, của các bác, các chú, con lại trộm nghĩ : Ai quốc bất phân nhân, vị bản, anh hùng vô luận thiếu niên do (53). Từ đó, con gẫm về lịch sử của nước nhà, con thấy cậu bé làng Phù Đổng còn đang tuổi nhi đồng mà đã đứng ra gánh vác việc đánh giặc Ân, cứu nước. Trần Quốc Toản đang tuổi thiếu niên, trộm nghe các bậc cha chú họp đại triều bàn việc chống giặc Nguyên, Toản đã tự mình tập hợp một đạo quân, hợp lực với chư tướng chư quân dưới cờ "Sát Thát” của Hưng Đạo Vương. Con chẳng dám sánh mình với những gương trung nghĩa tự ngàn xưa. Mà chỉ nghĩ mình đã biết cầm đũa lùa cơm ăn, cầm bút viết chữ đọc thì con phải suy xét việc mất, còn của nước mình, của dân mình. Cho nên, cái mục đích của hội kín mà chú giải San nói tới, con rất ưng ý. Nhưng lại dựa ngoại viện để cứu nước nhà, và chỗ dựa ấy là nước Phù Tang thì con chưa có đủ sự hiểu biết mà bàn tới, cha ạ.

Trời mưa lất phất. Quan Phó bảng Sắc nghiêng cái ô về phía bên trái che mưa cho con. Nhưng Côn sải bước hơi dài, vượt lên trước cha một chút, đầu Côn đội cái khăn vành rế đã không còn ở dưới chiếc ô của cha nữa. Ông Sắc dấn bước theo con nói bằng một giọng thân mật :

- Hôm nay hai cha con mình đi tiễn ông giải San lên đường tính việc Đông du. Sự suy nghĩ của con cũng giống sự suy nghĩ của cha về công cuộc cứu nước cứu dân của ông giải San. - ông ngập ngừng giây lát - Người xoay chuyển được cuộc thế có lẽ... lớp các con chứ lớp ông nghè, ông cử như cha không gánh nổi đâu. âu đành... Mặc khách tâm minh Chung sơn thạch, bất bình sự phó Cả giang lưu. (54)

Hai cha con quan Phó bảng Sắc thở dài, lặng lẽ bước trên con đường mưa bụi.

*****

 Từ Đan Nhiễm (quê Phan Bội Châu) ra đường cái quan rợp bóng tre làng. Những giọt mưa bụi đọng trên ngọn cây rơi lộp độp xuống ô quan Phó bảng Sắc, ô ông giải San. Côn đi dưới bóng ô của thầy Vương Thúc Quý. Nghe tiếng giọt nước cành cây điểm xuống ô, Côn thầm cảm một âm thanh của thời khắc buổi tiễn đưa.


Con đường cái quan từ thị trấn Sa Nam xuống thành Vinh như ngắn lại. Hòn núi Độc Lôi sừng sững bên đường đượm vẻ trầm tư và như đứng chào. Làn gió luôn theo núi quét nhè nhẹ lên hàng cây ven sông, xõa ngọn xuống cầu Hữu Biệt. Phan Bội Châu dừng chân bên núi. Chiếc ô trên tay ông nặng trĩu những giọt mưa rơi và lảo đảo trước ngọn gió lồng. Giọng ông hơi nghẹn ngào :

- Chư huynh (các anh) đi với tôi một đoạn đường đã khá dài. Đây là cầu Hữu Biệt, chứng ta tạm biệt tại đây. Và núi Độc Lôi chứng giám cho tình bằng hữu của chúng ta...

Ông cầm lấy bàn tay Côn, nói :

- Cháu ơi! Hậu sinh khả úy (55). Chú tin cháu sẽ là :

                                                Chim bằng tung cánh xuyên trời thẳm,
                                                Thử sức đại đương thuở cá côn.

Chú cảm ơn cháu đã tiễn đưa chú. Chú hy vọng sẽ được gặp cháu trên con đường vì nghĩa lớn...

Côn hơi bối rối :

- Cháu... Cháu cảm ơn chú đã trao gửi cho cháu những tình cảm và niềm tin cao cả ấy. Cháu rất thích bài thơ "Chơi xuân" của chú mà mê nhất là hai câu :

                                                Nước non Hồng Lạc còn đây mãi,
                                                Mặt mũi anh hùng há chịu ri
(56)

Phan Bội Châu ôm choàng Nguyễn Sinh Côn, chiếc ô chao qua chao lại trên vai, giọt mưa chảy dài xuống áo hai chú cháu.

Quan Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc sập ô xuống, cùng cử nhân Vương Thúc Quý đứng sát bên Phan Bội Châu. Phó bảng Sắc lấy từ trong túi áo một tờ giấy quyển, mở ra dưới bổng ô của Vương Thúc Quý, nói:

- Anh cử Quý và tôi có cảm tác mấy hàng, xin tặng anh lúc thượng lộ. Tôi xin đọc:

                                                Độc Lôi sơn hạ
                                                Hữu Biệt kiều tây
                                                Phong vi vi hề chấp quân quyết
                                                Vũ tế tế hề dữ quân biệt.
(57)

Mọi người đều sập ô xuống, chắp tay trước ngực, đầu cúi dưới làn mưa.

Tiếng gió hú trên núi. Mọi người đăm đăm nhìn theo bóng Phan Bội Châu đang rảo bước trên con đường mịt mù mưa gió.

------------

Chú thích:

(48) Thời bấy giờ các cụ thường ước tính dân số nước ta độ chừng ấy.
(49) Trông nhờ vào nước ngoài giúp ắt sẽ thất bại
(50) Đã sinh ra tiếng làm trai thì phải khác đời, chẳng lẽ cứ để mặc trái đất xoay vần tới đâu thì tới. Non sông mất rồi, sống thêm nhục, sách thánh hiền tẻ ngắt, càng đọc càng mụ đầu óc...
(51) Tam dân : Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Ý nói : đánh đổ chế độ vua chúa, mọi người bình đẳng.
(52) Tứ chủng : Theo quan niệm ngày xưa có bốn màu da : vàng, trắng, đen, đỏ. Tại Đại hội Đảng lần thứ 3, Bác nói "Quan sơn muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh em". Trong "Nhật kí chìm tàu" (1930), Bác viết : "Rằng đây bốn bể một nhà, vàng đen trắng đỏ đều là anh em". Ý nói : Đánh đuổi giặc Tây (Pháp), mọi người đều là anh em.
(53) Tạm dịch : Lòng yêu nước không phân biệt người đó xuất thân là gì; đã có chí anh hùng thì chẳng phải tính đến tuổi nhỏ làm gì.
(54) Đại ý : Tấm lòng trong sáng của kẻ văn nhân xin gửi núi Chung, sự bất bình đành thả theo dòng sông Cả chảy.
(55) Lớp người sinh sau thật đáng sợ (Ý nói : Lớp trẻ có thể làm được việc lớn chưa thể lường trước được).
(56) Ri : Thế này
(57) Tạm dịch : Dưới sườn núi Độc Lôi
Mé Tây cầu Hữu Biệt
(thuộc xã Nam Giang)
Gió hiu hiu thổi, bịn rịn cầm tay áo anh
Mưa bay lất phất cùng anh tiễn biệt.



SƠN TÙNG



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


  Những bản tin khác:




 Học tập và làm theo lời Bác 

 Tìm kiếm 
Tìm trên trang Bác Hồ với Huế
Tìm bằng Google
 Tìm hiểu về Đảng - Chính phủ 

 Tìm hiểu về Bác Hồ 
 Lời dạy của Bác 
Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ:

Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.
Hồ Chí Minh.
 Huế xưa và nay 






 CA KHÚC VỀ BÁC HỒ 

 THƯ VIỆN VIDEO 

 Liên kết website 
 Thông tin liên hệ 
 Số lượt truy cập 
   Tổng lượt truy cập 672048
    Hiện tại có 1 khách
Trang chủ    ¤   Ý kiến của bạn    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Tải Files