Tin mới:   
Truyện 17.01.2018 22:11
Bác Hồ thời niên thiếu ở Huế ( 9 )
30.08.2011 17:13

Tập truyện gồm 20 phần ghi lại những chặng đường thăng trầm của Bác Hồ và gia đình vào Huế sinh sống, học tập đến khi xa Huế vào Nam.

.9.

BÊN DÒNG PHỔ LỢI TRONG XANH

 

Thời gian thấm thoắt trôi nhanh, khoa Ất Mùi vừa qua (1895) thì khoa Mậu Tuất đã đến. Khoa này bảng vàng thi Hội cũng chưa đến tên anh Cử Sắc. Bao nhiêu hy vọng vào thi cử tan thành mây khói. Hỏng thi, anh mất luôn tiền học bổng ở trường Giám. Đời sống kinh tế trong gia đình bỗng dưng suy sụp không có cách gì gượng dậy được. Suốt ba năm anh ăn học, gia đình cũng phải vay mượn xóm giềng chút ít, bây giờ hỏng thi, lấy gì mà thanh thỏa đây? Thật là khó xử! Giữa lúc đó ở làng Dương Nỗ, cách Huế gần 7km về phía đông, học trò đang cần chữ. Dần làng Dương bèn nhờ một người cùng quê là ông Nguyễn Viết Chuyên đang làm việc tại bộ Hình tìm người vời về làng dạy học. Nghe anh Cử Sắc là người khí khái, học giỏi, có nghị lực nhưng còn lận đận trên con đường cử nghiệp, ông Chuyên liền tìm đến mời. Đang lúc buồn vì hỏng thi lại khó khăn về miếng cơm manh áo, anh Cử Sắc nhận lời. Anh để chị Loan đang có mang mấy tháng ở lại ngôi nhà của bà cụ Ba trong Thành nội, còn anh dắt hai người con trai qua đò chợ Dinh về làng Dương.

Ba cha con anh Cử Sắc được dân làng bố trí ở trong nhà ông Khóa Kiện dạy cho con trai ông Khóa (tức là bộ Hường sau này) và con em trong làng. Gia đình ông Nguyễn Độ dẫn ba người con đến xin học, đó là các cậu Nguyễn Sĩ Kính, Nguyễn Sĩ Mại, Nguyễn Sĩ Khuyến. Hai cậu Kính và Mại sắp đi thi Hương, còn cậu Khuyến tuy mới 15 tuổi nhưng đã học chữ Hán khá giỏi. Hai cậu con thầy là Khiêm và Cung về đây cũng ngồi vào lớp luôn.

Ở nhà ông Khóa Kiện được một thời gian, Khóa Kiện ỷ thế có tiền nuôi thầy, tỏ ra khinh ngang, hách dịch. Học trò đến xin học mà không có ý kiến chủ nhà là không được học. Trong khi đó, có những người con cái nhà giàu hư thân mất nết được Khóa Kiện đồng ý, bắt buộc thầy Cử Sắc phải nhận vào dạy. Thầy Cử tức mình cãi nhau với Khóa Kiện.

Nghe chuyện ấy, ba người con của ông Độ về nói lại với cha. Ông Độ chê Khóa Kiện có ăn học mà thiếu lễ nghĩa. Để có thể giữ chân thầy với dân làng, ông Độ sang vời thầy về nhà mình ở.

Ngôi nhà này nguyên của bà Diêu – vợ thứ của ông Nguyễn Phước Đạo (Thị lang bộ Công). Bà không có con trai nên được chồng làm cho một ngôi nhà để sau này cho con rể ở và thờ phụng bà. Ông Độ là rể của bà nên được quyền thừa kế. Sau khi giao nhà lại cho ba cha con anh Cử Sắc, ông Độ đưa gia đình về ở với cha mẹ già (cũng ở đó). Khác với Khóa Kiện, ông Độ lo đầy đủ cơm gạo cho thầy và hai người con. Chu đáo hơn, ông Cử luôn một người con gái chăm lo nấu nướng và giặt giũ cho gia đình thầy.

Nghe tiếng anh Cử Sắc về nhà ông Độ làm thục sư, dân làng Dương và các làng chung quanh đến xin học rất đông. Học trò thầy Cử có hai loại: loại sắp đi thi Hương có Kính, Mại, Lệ, Kiến (con ông Nguyễn Viết Chuyên), Phong, Xứ, Toản... Loại thứ hai đã giỏi chữ nhưng chưa đi thi cử gì hoặc mới học vỡ lòng như Huyến, Hoàn và hai người con trai của thầy là cậu Khiêm (thường gọi là Khơm) và Cung (thường gọi là Côông)...

Một hôm có người đem con đến xin học, thấy hai người con thầy ngồi bên cạnh liền buộc miệng hỏi:

- Bẩm thầy, vì sao hai cậu không ở trên Thành nội với mẹ mà lại theo thầy về đây?

Thầy Cử Sắc cười. Bàn tay xương xẩu của thầy vỗ vỗ lên cái đầu để tóc trái đào của hai người con trai, thầy nói đùa rằng:

- Thằng này là thằng Khơm, thằng này là thằng Côông. Khơm Côông là khôông cơm. Nên bầy tui đi mô thì đem hai đứa đi nấy để nhờ gia đình chủ nuôi.

Đó là một sự thật vừa khôi hài, vừa xót xa chua chát.

Ở Dương Nỗ hai cậu bé Khiêm, Cung vào lớp ngồi học như tất cả những người học trò lớp nhỏ khác. Thầy Cử Sắc lo dạy cho lớp học trò đi thi Hương khoa Canh Tý (1900), đối với những người mới học thì thầy chỉ ra bài, còn những học trò lớn phải dạy lại cho các học trò nhỏ. Cậu Khuyến 15 tuổi, con ông chủ nhà được chỉ định dạy kèm cậu Cung. Thầy Cử bảo cậu Khuyến: “Trò Cung không thuộc bài thì trò Khuyến phải ăn đòn thay”. Trò Cung học rất thông minh, nhớ sách rất giỏi, nhưng có cái tội là hiếu động, hay bỏ lớp đi chơi lang thang, hoặc đánh nhau với trẻ chăn trâu ở làng dưới. Vì vậy, trò Khuyến rất lo. Trò Khuyến cột một sợi dây chuối vào vạt áo sau của trò Cung. Hễ thấy trò Cung đi chơi, chiếc dây chuối căng ra thì trò Khuyến cầm dây kéo lại, bảo ngồi vào ghế học.

Một hôm thầy vừa ra Luận Ngữ, Cung lẩm nhẩm học một chút rồi xếp sách đứng dậy rục rịch đi chơi. Trò Khuyến nắm áo trò Cung kéo lại:

- Chú Hai (tức trò Cung), bài Luận Ngữ thầy mới ra sao chú không học lại bỏ đi chơi?

Trò Cung nhìn trò Khuyến bảo:

- Tui thuộc hết rồi.

Khuyến nhìn Cung có vẻ không tin. Biết thế, Cung đưa sách cho Khuyến dò, nhắm mắt đọc trầm. Sách Luận Ngữ một tập tám tờ, một tờ từ 5 đến 8 dòng, mới đọc sơ qua ai ngờ Cung đều thuộc hết. Thấy Cung thông minh, có trí nhớ như thế, đám học trò làng Dương tin tưởng nếu cậu Cung mà chịu chăm chỉ học hành thì chẳng mấy chốc, bảng vàng Hương, Hội sẽ đề tên, cha mẹ sẽ được giàu sang, xóm làng được tiếng hiển vinh. Cung thì không thích như thế. Hàng ngày cậu hay trốn bạn, trốn thầy đi chơi. Cái gì thích thì cậu học. Cậu rất thích nghe kể chuyện đào sông Phổ Lợi; chuyện các họ thờ trong ngôi nhà thờ bảy gian, chuyện đình làng Dương Nỗ... Nhiều buổi trưa, cậu lẻn ra sông tắm mát, tắm xong vào ôm cột đình to tướng xoay quanh, hay xuống quét lá ngủ trưa trên cái bệ trước am Bà làng Phò Nam. Dân làng thấy thế sợ lắm. Họ rỉ tai nhau nói: “Cậu Cung con thầy Cử Sắc nếu không bị Hà bá nhận nước thì cũng bị Bà vặt (vì cậu hay xuống tắm vào lúc đứng bóng hay ngủ trong Am Bà linh thiêng). Nhưng mãi không thấy cậu Cung bị đau ốm, hề hấn gì, họ lại kháo với nhau: “Cậu Cung mạng lớn hơn cả thần thánh, sau này thế nào cũng làm lớn”.

Một hôm thầy Cử Sắc bảo trò Khuyến đi tìm cậu Cung về học, trò Khuyến tìm mãi mới thấy trò Cung đang hỏi chị buôn bán ngoài chợ. Khuyến rủ trò Cung về, Cung không về và bảo bạn:

- Các anh về học sau này thi đỗ ra làm quan... Còn tôi thì chỗ nào thích tôi học.




NGUYỄN ĐẮC XUÂN



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


  Những bản tin khác:




 Học tập và làm theo lời Bác 

 Tìm kiếm 
Tìm trên trang Bác Hồ với Huế
Tìm bằng Google
 Tìm hiểu về Đảng - Chính phủ 

 Tìm hiểu về Bác Hồ 
 Lời dạy của Bác 
Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ:

Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.
Hồ Chí Minh.
 Huế xưa và nay 






 CA KHÚC VỀ BÁC HỒ 

 THƯ VIỆN VIDEO 

 Liên kết website 
 Thông tin liên hệ 
 Số lượt truy cập 
   Tổng lượt truy cập 608909
    Hiện tại có 1 khách
Trang chủ    ¤   Ý kiến của bạn    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Tải Files Phát triển bởi: Minh Luật Pro