Tin mới:   
Truyện 17.01.2018 22:11
Bác Hồ thời niên thiếu ở Huế ( 14 )
30.08.2011 16:55

Tập truyện gồm 20 phần ghi lại những chặng đường thăng trầm của Bác Hồ và gia đình vào Huế sinh sống, học tập đến khi xa Huế vào Nam.

.14.

VÀI ĐIỀU GHI DẤU Ở QUÊ HƯƠNG

 

Nghe thầy Huy đã đỗ đại khoa, dân làng Sen và làng Hoàng Trù mừng lắm. Lần đầu tiên làng Sen có đại khoa. Họ lại nghe vì thầy Huy mà triều đình đặt thêm cái tiền lệ vua ban áo mũ và ngựa trạm cho các ông Phó bảng vinh quy bái tổ, họ rất tự hào. Bà con lên Vinh hỏi ông Tổng đốc Đào Tấn bao giờ thì các ông đại khoa xứ Nghệ về quê để họ chuẩn bị đón rước long trọng. Khoa Tân Sửu, Nghệ Tỉnh có đến hai Tiến sĩ (Ngô Đức Kế ở Thạch Hà, Nguyễn Đình Điển ở Nam Đàn) và hai Phó bảng (Nguyễn Xuân Thưởng ở Thanh Chương và Nguyễn Sinh Huy ở Nam Đàn).

Hôm ông Phó bảng Huy về đến quê hương, làng xóm chuẩn bị đón ông thật linh đình. Võng lọng, kèn trống nghinh ngang. Họ tưởng ông đội mũ cánh chuồn trên mái tóc, mình mặc áo rồng còn hơi ấm của vua ban, nhưng không ngờ đại khoa Huy vẫn chiếc khăn đóng ám khói và chiếc áo lương đen may từ cái thuở đi lấy vợ đến giờ. Họ lại càng ngạc nhiên hơn khi xìa võng lọng nghinh đón ông thì ông bảo:

- Hãy lặng trống và xếp cờ. Tôi đỗ đại khoa nhưng tôi đã làm được cái gì cho dân cho nước đâu mà đón tôi. Nếu có đón thì đón những người đã làm nên sự đỗ đạt cho tôi, nhưng tiếc thay, ông già vợ tôi và bà vợ tôi đã khuất mặt cả rồi!...

Nói xong, ông dắt mấy đứa con lội tắt cánh đồng Chùa về làng Hoàng Trù thắp hương bái lạy tạ ơn vong linh cụ Tú Hoàng Xuân Đường và bà vợ là Hoàng Thị Loan.

Ở Hoàng Trù được một thời gian, dân làng Sen không cho ông Phó bảng ở rễ nữa, họ làm nhà và mời ồng về làng Nội. Nhân việc về làng quê, ông đổi tên cậu Nguyễn Sinh Khiêm thành Nguyễn Tất Đạt và Nguyễn Sinh Cung thành Nguyễn Tất Thành (vì tên Khiêm bị kỵ húy Khiên lăng - lăng vua Tự Đức). Tên con là ước muốn và sự thực của đời ông, dù khó khăn lận đận mà có chí, có quyết tâm rồi cũng thành đạt được. Ông ước mong con trai ông sau này làm cái gì cũng có được ý chí đó.

Cậu bé Xin về làng được một thời gian thì mất. Cậu Đạt theo ông Phó bảng đi cho chữ ở nhưng nơi cần chữ. Chị Thanh lo liệu việc nhà, cậu Thành tiếp tục học chữ Hán với nhà yêu nước Vương Thúc Quý ở ngay trong làng. Lúc này ông đầu xứ San đã đổi tên là Phan Bội Châu và đậu Thủ khoa Cử nhân ở trường Vinh năm Canh Tý. Thỉnh thoảng cụ Phan đến thăm Vương Thúc Quý và nói chuyện quốc sự. Nhiều hôm cụ nằm ngâm câu thơ của Tùy Viên (thi sĩ ở đời Thanh): “Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch, lập thân tối hạ thị văn chương” (có nghĩa là: Mỗi bữa ăn không được quên làm điều gì có lợi cho dân cho nước để ghi vào sử sách; Lập thân mà lấy văn chương thi cử làm sự nghiệp là hèn hạ nhất). Cậu Thành ngồi nghe sững sờ và đọc thuộc lòng câu thơ này.

Nghe Thành cũng hay chữ, cụ Phan bèn chỉ mặt trăng và câu đối:

- Nguyệt hướng bạch (trăng lên trắng),

Thành đã ứng khẩu đáp lại:

- Nhật xuất hồng (mặt trời mọc đỏ)

Cụ Phan khen là có “khẩu khí”. Đầu năm 1909, cụ Phan bí mật sang Nhật tìm đường cứu nước. Đến nữa năm cụ lại bí mật về quê tìm những người có tâm huyết đem sang Nhật học để sau này về cứu nước. Cụ Phan nhắm đến Nguyễn Tất Thành - một người tuấn tú sắp bước vào tuổi thanh niên. Cụ gặp anh Thành trong một chiếc đò lơ lửng trên sông Lam. Cụ kể chuyện nước Nhật sau khi duy tân đã trở thành một cường quốc đủ sức đánh bại được thủy quân của Sa Hoàng. Anh Thành nghe rất thích thú và anh hỏi cụ Phan:

- Thưa chú vậy nước Nhật có ai mà họ giỏi vậy?

Cụ Phan tình thiệt đáp ngay:

- Họ học văn minh kỹ thuật của Tây phương.

Anh Thành ngúc ngắm đầu cám ơn. Anh tưởng tượng đến cái nước Tây phương nào đó mà quan trọng đến vậy.

Nói chuyện xong, cụ Phan bảo sẽ đem Thành sang Nhật. Nhưng thật bất ngờ... anh Thành đã từ chối với lý do chưa được sự đồng ý của ông Phó bảng. Cụ Phan rất buồn. Cuối cùng cụ đã phai đem người con trai của cụ Sơn - thầy học của cụ Phan (ông này sau đỗ bác sĩ, không có tiếng tăm gì).

Cụ Phan lại lên đường sang Nhật. Anh Thành về nhà gặp ông Phó bảng. Anh nói:

- Thưa thầy, con muốn học chữ Tây.

Ông Phó bảng giật mình. Ông không thể tưởng tượng được một người xuất thân trong gia đình Nho giáo khoa bảng như con ông lại muốn đi học cái thứ chữ của bọn bồi bút Việt gian làm tay sai cho thực dân đế quốc. Ông trợn mắt nhìn con. Anh Thành biết cha bực mình, anh giải thích:

- Con muốn học cái chữ của Tây phương - nơi người Nhật đã học được văn minh kỹ thuật để duy tân đất nước!

Ông Phó bảng vỡ lẻ. Nhưng ở trên cái đất Nghệ Tĩnh sục sôi chống Pháp này, có thể nhờ được ai để dạy con? Vợ mất rồi, con cái nó có cái mộng lớn ấy, không giúp con đi theo chí hướng của nó, thật cũng không đành! Trong lúc ông đang phân vân thì có lệnh của triều đình vời ông vào Kinh để làm việc. Ông không muốn làm quan, không muốn chui vào cái vòng cương tỏa của miếng cơm manh áo, nhưng dù sao, đây cũng là cơ hội để ông có thể giúp cho con ông thực hiện cái chí hướng của nó. Ông quyết định đưa gia đình trở lại chốn Đế đô.

Trước mùa mưa lũ năm 1905, gia đình ông Phó bảng rời quê hương  lên đường vào Huế. Lần đó, ông cũng  như ba người con đi theo, có lẽ không ai nghĩ rằng bốn người ra đi chuyến ấy sẽ có người không về nữa, có người phải năm mươi năm sau mới trở về...



NGUYỄN ĐẮC XUÂN



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


  Những bản tin khác:




 Học tập và làm theo lời Bác 

 Tìm kiếm 
Tìm trên trang Bác Hồ với Huế
Tìm bằng Google
 Tìm hiểu về Đảng - Chính phủ 

 Tìm hiểu về Bác Hồ 
 Lời dạy của Bác 
Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ:

Nhiệm vụ của thanh niên không phải là đòi hỏi Nước nhà đã cho mình những gì, mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho Nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi Nước nhà nhiều hơn ? Mình đã vì lợi ích Nước nhà mà hy sinh phấn đấu đến chừng nào?
Hồ Chí Minh.
 Huế xưa và nay 






 CA KHÚC VỀ BÁC HỒ 

 THƯ VIỆN VIDEO 

 Liên kết website 
 Thông tin liên hệ 
 Số lượt truy cập 
   Tổng lượt truy cập 608909
    Hiện tại có 1 khách
Trang chủ    ¤   Ý kiến của bạn    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Tải Files Phát triển bởi: Minh Luật Pro