Tin mới:   
Nghiên cứu 20.06.2018 18:28
“Muôn vàn tình thân yêu” trong Di chúc cụ Hồ
20.04.2013 02:59

ThS Đặng Nữ Hoàng Quyên - BMTTHCM, ĐHKH Huế

            Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong số rất ít danh nhân của nhân loại mà “cuộc đời càng lùi dần vào quá khứ thì tư tưởng lại càng được khẳng định, càng tỏa sáng trên con đường đi tới của dân tộc, của xã hội và của con người”. Lịch sử sẽ mãi khắc ghi cái tên “Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của thế giới”, những di sản của Người sẽ sống mãi với thời gian, với cuộc đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, cho quyền được sống và được hưởng tự do, hạnh phúc của các dân tộc, của mỗi con người.

            Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại Di chúc thiêng liêng, tài sản vô cùng quý giá của dân tộc ta. Di chúc kết tinh trong đó cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một vĩ nhân đã suốt đời phấn đấu hy sinh vì Tổ Quốc và nhân loại. Di chúc đã tổng kết sâu sắc những bài học đấu tranh và thắng lợi của cách mạng Việt Nam, đồng thời cũng vạch ra những định hướng mang tính cương lĩnh cho sự phát triển của đất nước và của dân tộc ta sau khi kháng chiến thắng lợi. Di chúc đồng thời chứa đựng và truyền tải “những tình cảm lớn của Người đối với toàn Đảng, toàn dân ta, với đồng chí và bầu bạn khắp năm châu”. 

            Bốn mươi năm đọc lại Di chúc của Bác, có thể thấy vẫn còn nguyên vẹn một tấm lòng suốt đời Người vì nước, vì dân, một tình cảm ấm nóng thiết tha, và một niềm tin sâu sắc gửi đến các thế hệ con cháu mai sau. Từng câu, từng chữ trong Di chúc là ruột gan, là tâm huyết của Người được dồn nén tích tụ suốt cả một cuộc đời. Vì thế, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt qua tính chất thiêng liêng vốn có để vươn tới sự “lan tỏa” mạnh mẽ với những tác động mang tính nhân văn cao cả.

            Đọc Di chúc, rất dễ nhận thấy nỗi suy tư, trăn trở của Bác về con người và tình thương yêu bao la Bác dành cho con người. Tư tưởng vì con người là một trong những yếu tố “nội sinh” quan trọng tạo nên sức sống, sức trường tồn của Di chúc. Chữ “người” ở đây được Hồ Chí Minh xác định “nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng hơn là cả loài người”. Đây không phải là con người chung chung, trừu tượng mà là con người hiện thực. Với Người, nhân dân không phải là một khái niệm chung chung, mơ hồ mà là những người lao động, là nông dân, công nhân, trí thức và tất cả những người Việt Nam yêu nước, là từng con người, từng cuộc đời, từng hoàn cảnh cụ thể... Nó bao gồm tuyệt đại bộ phận dân tộc và thành phần chủ yếu là nhân dân lao động. Nó gần với hai chữ “đồng bào”. Khi Người nói “Đầu tiên là công việc đối với con người”, thì Người đã gửi gắm tất cả tâm tư, tình cảm của mình một cách chân tình, sâu sắc với nhân dân, với đồng chí, đồng bào. “Xuất phát từ con người hiện thực để thấu hiểu và yêu thương họ, đó là giá trị nhân văn đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh”.

            Lớn lên trong thân phận của một người dân mất nước, Bác đã thấy, cảm và nhận rất rõ cuộc sống cực nhục, lầm than của người dân nước mình trong cảnh mất tự do. Yêu nước nên Bác ra đi tìm đường cứu nước. Đó là động lực tư tưởng, tình cảm chi phối mọi suy nghĩ, hành động của Bác trong suốt cả cuộc đời mình. Đó cũng là cơ sở tư tưởng đã dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, tiếp thu lý luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin, bắt đầu từ lý luận về vấn đề dân tộc và thuộc địa để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Vậy, cốt lõi của yêu nước chính là yêu người, với Bác, yêu người được biểu hiện gần gũi hơn, đó là yêu dân. “Dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là toàn dân. Dân là chủ của mọi quá trình cách mạng, là lực lượng vô tận của cách mạng. Yêu nước gắn liền với thương dân là lẽ sống của Bác. Trong lịch sử đã có nhiều tấm gương về lòng yêu nước, thương dân; nhưng đến Bác thì lòng yêu nước thương dân mang một nội dung mới, sâu sắc và toàn diện. Tình thương đó trước hết dành cho nhân dân lao động, cho những người nghèo bị đọa đày, áp bức. Từ tình yêu đồng bào, Người mở rộng tình yêu đến cả nhân loại cần lao, đau khổ. Với Bác, mọi kiếp người lầm than trong gian nan đọa đày đều nằm trong tình yêu thương bao la của mình.

            Yêu thương, quý trọng con người ở Bác gắn liền với sự sẻ chia, đồng cảm của những người cùng cảnh ngộ. Những khổ đau của đồng bào, đó chính là nỗi khổ đau của gia đình Người và bản thân Người đã phải trải qua. Thuở thiếu thời, sống dưới sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, sự đàn áp của chế độ phong kiến, Người tận mắt chứng kiến bao nỗi đau cơ cực, nghèo đói, bất công của đồng bào mình. Từ nỗi đau nung nấu thành khát vọng, Người đau đáu một niềm mong muốn giải phóng cho đồng bào mình thoát khỏi ách nô lệ lầm than.

Bao nhiêu năm bôn ba tìm đường cứu nước, cứu dân bằng con đường lao động cực nhọc để tự kiếm sống, được đặt chân lên nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau, Bác có cơ hội tận mắt chứng kiến cuộc sống người dân ở nhiều châu lục, và ở đâu Người cũng thấy người dân thuộc địa bị áp bức tàn bạo, bị khinh rẻ, khốn cùng. Người đã xúc động và khóc khi thấy cảnh tượng những người da đen bị đẩy xuống biển chết, phụ nữ bị hãm hiếp, trẻ em bị phơi đói, và những người dân thuộc địa bị bắt lính.v.v...

Vì yêu thương con người nên Hồ Chí Minh đã tố cáo mạnh mẽ tội ác của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân. Cũng từ tình yêu thương lớn lao đó, Người đã dấn thân trọn đời cho phong trào đấu tranh để giải phóng dân tộc, giải phóng thuộc địa ở Việt Nam và trên thế giới. Tình yêu thương Bác dành cho con người là một tình cảm bao la rộng lớn. Tình yêu đó được biểu hiện cụ thể thiết thực trong mỗi lời nói, bài viết, trong từng cử chỉ, việc làm và trong từng hoàn cảnh khác nhau. Bác quan tâm đến mọi tầng lớp nhân dân từ những việc nhỏ nhất, bởi “nghĩ cho cùng, vấn đề tư pháp cũng như mọi vấn đề khác...là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức...”. Cả cuộc đời cách mạng không mệt mỏi của mình, Bác bôn ba tranh đấu đến cùng là vì một chữ “người”- chữ “dân”.

            Trong Di chúc, Người không chỉ  để lại “muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng” mà còn “các đồng chí, các bầu bạn, và các cháu thanh niên nhi đồng quốc tế”. Đó là tình thương yêu không quốc gia, không chủng tộc, không biên giới. Nhưng ở đây không phải là lòng thương người siêu giai cấp, trừu tượng mà là tình thương yêu giai cấp đối với công nhân, tình thương yêu vô cùng rộng lớn đối với nhân dân lao động, đối với người cùng khổ. Bác lấy tình yêu thương con người, sự cống hiến cho con người là niềm vui, là thăng hoa của tâm hồn, là mục đích cao nhất để làm người. 

            Trong muôn vàn tình thân yêu đó, Bác không để sót một ai, không quên một ai. Tình yêu thương biểu hiện cụ thể bằng việc quan tâm đến con người, đến từng đối tượng người rõ ràng với những hành động thiết thực, xác đáng. Những lời dặn dò thân thương của Bác không chỉ là những lời dặn dò bình thường mà là tình sâu nghĩa nặng của một vị cha già để lại cho lớp lớp cháu con.

            Trước hết nói về Đảng, tình yêu thương đối với Đảng được Người thể hiện ở mong muốn Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, giữ vững địa vị đảng cầm quyền và có đủ khả năng hoàn thành sứ mệnh mà nhân dân đã giao phó. Những lời căn dặn của Bác dành cho Đảng là lời dặn dò tâm huyết về mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và dân: “Đảng ta phải xứng đáng là người lãnh đạo” và “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Muốn làm được điều đó, Đảng phải “giữ gìn sự đoàn kết...như giữ gìn con ngươi của mắt mình”, phải “thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình”, “mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, “phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch”...Phải đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân, có đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực là điều mong mỏi thiết tha của Bác, đây cũng là nhiệm vụ then chốt, cấp bách, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta hiện nay. 

            Thế hệ trẻ của dân tộc luôn được Bác dành những tình cảm mến thương và sự quan tâm đặc biệt. Hơn ai hết, Bác là người thấy rõ vai trò to lớn, quyết định của thanh niên trong tiến trình lịch sử và có niềm tin sâu sắc vào khả năng cách mạng của thanh niên. Người dành cho thanh niên bao nhiêu tình thân thương trìu mến là bấy nhiêu niềm tin và hy vọng. “Đoàn viên, thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết.”

            Bác đã đi qua thời tuổi trẻ bằng rất nhiều vất vả và gian lao. Bác cũng là người trực tiếp dìu dắt những lớp thanh niên đầu tiên chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng, nên Người gần gũi và luôn quan tâm chăm sóc các thế hệ trẻ bằng tấm lòng ân cần của một người cha. Tháng 1-1947, khi biết tin con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng hy sinh, Bác đã gửi lời chia buồn rất xúc động: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột”[1]. Cũng bởi vì thương yêu và trăn trở nhiều cho việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau nên sau đó Bác đã viết thêm vào Di chúc mấy điểm: “Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Bác đã đặt trọn tình yêu thương trong tin tưởng và kỳ vọng. Lịch sử đã và đang đặt lên vai thanh niên những trọng trách lớn lao, thanh niên ta cần phải thực hiện những lời di huấn muôn vàn tình thân thân yêu ấy của Bác trong việc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Tình thương bao la, bình dị và mộc mạc nhất, Bác dành cho nhân dân lao động. “Nhân dân lao động ta...rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù...trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân.”. Ở Bác, tình thương yêu dành cho quảng đại quần chúng nhân dân được đặt lên tầm cao sâu sắc, song lại rất thiết thực, thiết thực đến mức cứ mười ngày Bác nhịn ăn một bữa để lấy gạo giúp đồng bào cứu đói. Hiếm có một lãnh tụ nào như vậy. Lãnh tụ ở trong dân, chan hòa với dân như ruột thịt. Người nói: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi.”[2]

            Ngoài sự quan tâm đến quyền lợi, nguyện vọng, đời sống của cả dân tộc, Người còn quan tâm đến những nhu cầu, nguyện vọng riêng của mỗi giới, mỗi con người với một tấm lòng vừa nhân ái vừa rất ấm áp. Càng yêu dân, càng hiểu dân, tấm lòng Người dành cho dân càng chan chứa ân tình.

            “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình..., Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.

Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương... cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

            Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương... phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét.

            ...Phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên...

            ...Đồng bào nông dân, đề nghị miễn thuế nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất.”

Ai cũng thấy được rất rõ, rất cụ thể trong “muôn vàn tình thân yêu” ấy của Bác có sự ân cần, sự chăm lo chu đáo và sự nâng đỡ con người một cách sát sao, thấu tình đạt lý. Trong buổi lễ kỷ niệm lần thứ 80 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 5-1970, Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “Hồ Chủ Tịch là điển hình mẫu mực của mối quan hệ giữa lãnh tụ và quần chúng...Hồ Chủ Tịch là vị chỉ huy cao nhất và gần nhất đem lại tin tưởng cho chiến sĩ và đồng bào. Đối với mỗi nhà Việt Nam, Bác là một người trong gia đình, thân thiết như cha với con. Đối với mỗi người Việt Nam, Bác là lương tâm tuyệt vời trong sáng, luôn luôn thấu hiểu từ bên trong mọi ý nghĩ và nguyện vọng của mình...”.

Tình yêu thương của Bác mênh mông và vô bờ bến dành cho bao kiếp người, bao số phận người. Ngay cả những đối tượng là trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu.v.v...trong xã hội miền Nam dưới chế độ Mỹ- Ngụy, cũng được Người dành tình thương yêu, Người coi họ là “nạn nhân của chế độ xã hội cũ”, và dặn dò “Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”.

            Điểm nổi bật trong muôn vàn tình thân yêu của Bác là lòng khoan dung rộng lớn. Theo Bác, bàn tay có ngón dài, ngón ngắn, nhưng cả năm ngón tay đều hợp nhau lại nơi bàn tay. Hàng triệu người Việt Nam có người thế này, người thế khác, nhưng đều cùng là nòi giống Lạc Hồng. Trong Bác luôn có niềm tin vào tinh thần đại nghĩa của dân tộc và lòng hướng thiện của con người. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của chủ nghĩa nhân văn cao cả, của chủ nghĩa nhân văn cộng sản; là một người nhân ái, vị tha; con người mà trái tim yêu thương luôn dành cho đồng bào mình và cho nhân loại cần lao. Người có niềm tin không bờ bến vào nghị lực sáng tạo và lương tri của con người, khơi dậy ở mỗi người khả năng, tự giải phóng và hoàn thiện mình”[3].

            “Về phong trào cộng sản thế giới”, Bác còn trăn trở và “đau lòng...vì sự bất hòa hiện nay giữa các đảng anh em”, và Người mong muốn “Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản có lý, có tình”.

Hiến dâng trọn vẹn đời mình cho nhân dân, dân tộc và nhân loại, trước khi ra đi, tiếc nuối lớn nhất của Người là “suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này tôi không có gì phải ân hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Vì vậy, Người mong “chớ nên tổ chức linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”. Ngay cả một chút “tro xương” cuối cùng Người cũng muốn gửi gắm, san sẻ cho nhân dân 3 miền Bắc, Trung, Nam, nhất là đồng bào miền Nam. Những ngày cuối cùng trên giường bệnh, tâm trí của Người vẫn hướng về cuộc sống và chiến đấu của nhân dân hai miền Nam Bắc. Mỗi lần các đồng chí trong Bộ Chính trị vào thăm, Người đều hỏi: “Hôm qua miền Nam thắng ở đâu?”. “Ở miền Nam Việt Nam...mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi”[4].  Bác luôn thương nhớ đồng bào, cán bộ, chiến sĩ miền Nam. Miền Nam yêu thương, miên Nam “đi trước về sau” luôn luôn ở trong trái tim Bác. Bác vẫn luôn nung nấu khát vọng lớn lao ngày đất nước độc lập, Bác sẽ “đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng, thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta”.

            Tình thương yêu, sự quan tâm chăm sóc của Bác dành cho người lao động chân tay cũng như người lao động trí óc, từ công nhân đến nông dân, từ già đến trẻ, từ đồng bào miền xuôi đến bà con các dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo và những người Việt Nam sống ở nước ngoài, đã tập hợp sức mạnh toàn dân, tạo nên sự đồng thuận đưa cuộc kháng chiến kiến quốc đi đến thắng lợi.

Bác yêu thương con người một cách giản dị nhưng ấm áp và sâu sắc. Tình yêu thương con người của Bác là điểm nổi bật của triết lý nhân sinh, của chủ nghĩa nhân văn cách mạng. Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh chính là sự kế thừa, phát triển và nâng lên tầm cao mới của tinh thần nhân ái Việt Nam. Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đặc biệt trong sáng và cao cả vì người mang nó là một người vì nghĩa quên mình, suốt đời tận tụy mà không hề nghĩ đến bản thân danh lợi. Nhà báo Burchett khẳng định: “Nói tới một người mà cả cuộc đời mình để lại ân tình sâu nặng trong nhân dân thì không có ai ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Không chỉ yêu nước, yêu thương con người, trong “muôn vàn tình thân yêu” của Bác, Bác còn yêu thiên nhiên và hòa hợp với thiên nhiên. Tình yêu ấy gắn liền với cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Người tìm thấy trong thiên nhiên một người bạn tâm tình, bạn tri ân, bạn chiến đấu. Trước lúc ra đi, Người cũng muốn được gần gũi với thiên nhiên, “tro xương” được chôn trên một quả đồi có trồng nhiều cây. “Trồng cây nào phải tốt cho cây ấy. Lâu ngày cây nhiều sẽ thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp”. “Phải chăng trong Người luôn hiện hữu mối quan hệ gần gũi giữa tình yêu thiên nhiên với trạng thái tâm hồn thanh thản, tỉnh táo, ung dung tự tại trong lúc bình cũng như khi biến”[5].

“Bác sống như trời đất của ta”, tâm hồn Bác bao la, rộng mở như đất trời, sống để dâng hiến và để yêu thương. Vì thế, nên Bác đã chuẩn bị cho sự ra đi của mình một cách tự tại và thư thái. Đồng chí Vũ Kỳ, trong tập hồi ký “Bác Hồ viết Di chúc” viết: “Đúng 9h, Bác Hồ ngồi chăm chú viết. Vấn đề chắc đã được suy ngẫm từ lâu...chọn lúc 9h, giờ đẹp nhất của một ngày, chọn vào lúc sức khỏe tốt nhất trong những năm gần đây...để viết về ngày ra đi của mình...Bộ quần áo nâu gụ, mái tóc bạc phơ bay bay trong gió, khuôn mặt hồng hào với đôi mắt hiền từ và chòm râu trắng, làm cho Bác Hồ bước vào tuổi 75 đẹp như một ông tiên trong các truyện cổ tích. Và chính trong những ngày này, Bác Hồ bắt đầu viết những lời dặn lại cho mai sau”.

Trong bài thơ Di chúc của Người nhà thơ Chế Lan Viên đã có những câu thơ rất xúc động:

“Di chúc Người viết cho ta, đâu phải vì Người

Bác sợ khi Bác đi rồi, ta sẽ lạnh

Sợ ta đau, sợ ta rồi lơ đễnh

Sợ ta quên

Người gửi lại một niềm tin”

            Bác ra đi nhưng để lại muôn vàn tình thân yêu và niềm tin lớn lao, vững chắc cho bao thế hệ con cháu. Mỗi lần đọc lại Di chúc, chúng ta đều thấy dấy lên trong lòng một tình cảm thiêng liêng, cao quý về một con người vĩ đại đã dành trọn cuộc đời mình cho nước, cho dân, cho hòa bình và hạnh phúc của loài người. Vì chữ “người”, vì tình yêu thương bao la mọi kiếp người nên Di chúc của Bác luôn bàng bạc tỏa ra một thứ ánh sáng ấm áp dịu dàng. Thật đúng khi nói rằng “Di chúc là tác phẩm đã chưng cất chủ nghĩa nhân văn được hình thành, phát triển và thể hiện trong toàn bộ hệ thống tư tưởng, trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”[6]. Thêm một lần đọc Di chúc là thêm một lần thấy giá trị thời đại còn tinh tơm, nguyên vẹn. Di chúc mãi mãi là tình thương, là ánh sáng chỉ đường, là sức mạnh thôi thúc hành động không chỉ đối với nhân dân ta, mà còn đối với tất cả những ai đang đấu tranh cho tự do, độc lập, cho hòa bình, công lý và hạnh phúc của con người.

            Bốn mươi năm, soi mình trong tình thương yêu của Bác, các thế hệ con cháu của Người đã thực hiện theo Di huấn và phấn đấu làm theo năm lời thề thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân trước anh linh Bác. Bốn mươi năm đất nước chuyển mình, trên con đường đi tới và hội nhập, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu, song cũng gặp không ít thách thức, lẫn khó khăn. Tuy nhiên, chúng ta có quyền tin tưởng và kỳ vọng vào một tương lai rạng rỡ của đất nước, cũng như Bác đã đặt trọn niềm tin và lạc quan sâu sắc vào các thế hệ con cháu mai sau. Trong công cuộc đổi mới và hội nhập hôm nay, chúng ta như thấy Bác vẫn đang  cùng chúng ta lo toan mọi việc, đang cùng dân tộc Việt Nam đồng hành trong những thiên niên kỷ mới. Ánh sáng niềm tin và tình thương mênh mông của Bác sẽ mãi là ngọn đuốc dẫn đường, tiếp sức cho mỗi chúng ta cố gắng. Nhìn lại một chặng đường đã qua, hướng đến tương lai phía trước, mỗi chúng ta phải chung tay phát huy những thành tựu đạt được, khắc phục những khó khắn, hóa giải thách thức. Cả dân tộc đang cùng chung bước, vượt qua khó khăn, đoàn kết, và vững tin tiến lên phía trước. Vì tình thương và niềm tin sâu sắc vào con người; bốn mươi năm, Di chúc của Bác vẫn tỏa sáng những giá trị lớn lao của thời đại./.




[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000,  tập.5, trang.40.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập.7, trang.572.

[3] Tạ Hữu Yên: “Nhân văn Hồ Chí Minh”, Báo Nhân dân, số 61- 5/2002.

[4] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập.12, trang.560-561.

[5] Trần Văn Giàu: Vĩ đại một con người, Nxb CTQG, HàNội, 2009

[6] Lại Quốc Khánh: Di chúc tác phẩm kết tinh chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh,.Hội thảo khoa học Di chúc CTHCM giá trị lý luận và thực tiễn, HN 2009, trang 124.



(Theo Nhà xuất bản Đại học Huế, 9/2009)



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


  Những bản tin khác:




 Học tập và làm theo lời Bác 

 Tìm kiếm 
Tìm trên trang Bác Hồ với Huế
Tìm bằng Google
 Tìm hiểu về Đảng - Chính phủ 

 Tìm hiểu về Bác Hồ 
 Lời dạy của Bác 
Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ:

Nhiệm vụ của thanh niên không phải là đòi hỏi Nước nhà đã cho mình những gì, mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho Nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi Nước nhà nhiều hơn ? Mình đã vì lợi ích Nước nhà mà hy sinh phấn đấu đến chừng nào?
Hồ Chí Minh.
 Huế xưa và nay 






 CA KHÚC VỀ BÁC HỒ 

 THƯ VIỆN VIDEO 

 Liên kết website 
 Thông tin liên hệ 
 Số lượt truy cập 
   Tổng lượt truy cập 673687
    Hiện tại có 7 khách
Trang chủ    ¤   Ý kiến của bạn    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Tải Files