Tin mới:   
Nghiên cứu 20.10.2018 20:19
Tư tưởng nhân văn trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
20.04.2013 02:57

ThS. Hà Thị Hằng - Khoa KTCT, ĐHKT Huế

  

   Cách đây tròn 40 năm, trước khi từ biệt thế giới này để đi vào cõi vĩnh hằng (đi gặp cụ Các Mác, Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta bản Di chúc thiêng liêng, trong đó chứa đựnggiá trị nhân văn sâu sắc. Bản Di chúc của Người là sự kết tinh cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp, giản dị của một vĩ nhân, một anh hùng giải phóng dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới. Từ đó tới nay, Di chúccủa Người trở thành một văn kiện lịch sử vô giá đối với Đảng, Nhà nước  trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới đất nước.

Trong Di chúc của Người, cái làm nên giá trị tinh thần lớn lao, thấm đượm tính nhân văn cao cả và mang ý nghĩa cải tạo thực tiễn sâu sắc là quan điểm vì con người - một triết lý nhân sinh mà Người đã dày công vun đắp. Trong suốt cuộc đời của mình, Người khẳng định mọi công việc đều liên quan tới con người, hướng vào phục vụ con người, làm cho con người được phát triển toàn diện với mọi năng lực vốn có của nó, để con người được làm chủ, có tự do, có cuộc sống ấm no và hạnh phúc.

Thực tế, bản Di chúc đầu tiên được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết vào ngày 15 tháng 5 năm 1965. Tuy nhiên, đến tháng 5 năm 1968 khi xem lại Người “thấy cần phải viết thêm mấy điểm không đi sâu vào chi tiết”[1].Ở bản viết bổ sung (1968) này, công việc đối với con người được xem là trọng tâm của mọi suy tư, là nội dung chủ yếu của bản Di chúc, Bác viết: “Đầu tiên là công việc đối với con người”[2].

 Quan điểm vì con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trong Di chúc đó là tình yêu thương bao la đối với tất cả mọi tầng lớp người trong xã hội và sự hy sinh quên mình của Bác.

Trước hết, trong Di chúcNgười căn dặn toàn Đảng, toàn dân kể cả khi đất nước khó khăn nhất phải quan tâm thiết thực đến những người có công với cách mạng cả những thương binh, những người đã hy sinh và gia đình của họ. Người nói: Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc “chúng ta phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, phải mở những lớp dạy nghề thích hợp cho họ, để họ có được hành trang cần thiết bước vào cuộc sống tự lập, tự lực cánh sinh”[3]. Lời căn dặn này của Người vừa thể hiện tình thương, lòng biết ơn nhưng cũng hết sức tin tưởng vào bản lĩnh, nghị lực của những con người tàn mà không phế. Đối với những người đã hy sinh, Bác nhắc nhỡ “mỗi địa phương cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm để mãi ghi nhớ sự hy sinh anh dũng của họ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta”[4]. Tư tưởng của Người vừa thể hiện đạo lý truyền thống của dân tộc ta “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, vừa để giáo dục đạo đức cho thế hệ mai sau. Đối với gia đình liệt sỹ họ bị mất người thân, thiếu sức lao động Đảng và Nhà nước cần có sự quan tâm đặc biệt “phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ đói rét”[5].

Với tầm nhìn chiến lược vượt thời đại Chủ tịch Hồ Chí Minh dự đoán được tình hình đất nước sau khi kết thúc chiến tranh bước vào xây dựng xã hội mới sẽ thiếu hụt cán bộ, công nhân kỹ thuật có trình độ, vì vậy Người đề nghị các cấp lãnh đạo phải sớm có kế hoạch đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Người nói “Đối với những người còn trẻ, có nhiều cống hiến trong các lực lượng vũ trang và thanh niên xung phong, Đảng và Chính phủ cần “chọn một số người ưu tú nhất để đào tạo họ trở thành những người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật giỏi, có tư tưởng, lập trường cách mạng vững vàng và lấy đó làm đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng xã hội mới”[6].

Riêng với phụ nữ, Bác luôn dành những tình cảm ưu ái bởi phụ nữ là một nửa của thế giới nhưng họ luôn phải chịu nhiều thiệt thòi, phải đảm đang công việc gia đình và gánh vác công việc của xã hội nên Bác đề nghị Đảng và Chính phủ “phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo”[7]. Bên cạnh đó Bác cho rằng chính phụ nữ cũng phải cố gắng vượt qua mọi khó khăn để vươn lên, tự học hỏi trao dồi kiến thức, hoàn thiện nhân cách đó mới  là con đường đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho họ.

Trong Di chúc Người không quên nhắc tới những người lầm đường lạc lối như trộm cắp, gái điếm, buôn lậu. Bác không coi họ là những người xấu xa mà coi là “nạn nhân của chế độ xã hội cũ”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường lấy hình tượng bàn tay để nói về cách ứng xử giữa người với người, Người nói: năm ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài, tuy ngắn dài nhưng đều hợp lại nơi bàn tay. Con người ta cũng có thế này, thế khác, người này người khác, nhưng tất cả đều là con cháu Lạc Hồng. Do đó, theo Người chúng ta phải có lòng độ lượng, khoan dung và đầy tình thân ái để “vừa dùng giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”[8].

Xuất phát từ thực tiễn nước ta là một nước nông nghiệp, người dân nước ta đa số là nông dân. Trong sự nghiệp kháng chiến cứu nước vĩ đại, tầng lớp nông dân đã có những đóng góp cực kỳ lớn lao. Theo Người khi đất nước được hòa bình, chúng ta phải ghi nhận sự đóng góp to lớn họ, nên Người đề nghị “miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”[9].

Quan điểm vì con người trong Di chúccủa Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở sự hy sinh quên mình của Bác. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người đã tiến hành đấu tranh không mệt mỏi, cống hiến không tiếc sức mình cho độc lập, tự do của dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân. Ngay cả khi phải từ biệt thế giới này, Người vẫn lấy làm tiếc vì không còn được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”[10]. Cao cả hơn thế nữa, sau khi tôi qua đời, Người không hề đòi hỏi bất cứ điều gì cho riêng mình, Người căn dặn “chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”[11]. Nhưng thật cảm động và sâu sắc hơn nhiều là một ý tưởng được mãi mãi gần gũi với nhân dân, mãi mãi sống cùng đồng bào mình, non sông đất nước mình: “Tro thì chia ba phần, bỏ vào ba cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam”[12].

Có thể nói, tư tưởng vì con người của Người quả là xưa nay hiếm. Nếu không có một triết lý nhân sinh hành động, thấm đượm chủ nghĩa nhân đạo cao cả và tư tưởng nhân văn sâu sắc thì Người đã không thể có được quan điểm vì con người mà quên cả bản thân mình như vậy.

Thấm nhuần lời căn dặn của Bác “đầu tiên là công việc đối với con người”, chính sách đối với gia đình thương binh, liệt sỹ, chính sách với gia đình có công được Đảng hết sức quan tâm và đã trở thành pháp lệnh của Nhà nước. Theo chính sách hiện hành, đối tượng ng­ười có công đ­ược hưởng chế độ trợ cấp ư­u đãi của Nhà n­ước bao gồm: ngư­ời hoạt động cách mạng trước tháng Tám năm 1945 (lão thành cách mạng và tiền khởi nghĩa); Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; th­ương binh, bệnh binh, ng­ười h­ưởng chính sách như­ thương binh; người giúp đỡ cách mạng; Anh hùng Lực l­ượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; ngư­ời hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; ng­ười hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc đã đ­ược Nhà n­ước khen tặng huân chư­ơng, huy chư­ơng tổng kết thành tích kháng chiến. Mặc dù đất nước còn nhiều khó khăn, nh­ưng chính sách trợ cấp ưu đãi ng­ười có công luôn luôn đ­ược điều chỉnh, nhằm phấn đấu làm cho những ng­ười và gia đình có công với cách mạng “yên ổn về vật chất, vui vẻ về tinh thần”.

Hiện nay, chúng ta đang triển khai thực hiện Quyết định 142 của Thủ tướng Chính phủ cho gần  80 vạn trường hợp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã phục viên, xuất ngũ về địa phương. Công tác tìm kiếm, cất bốc, quy tập mộ liệt sĩ (bắt đầu từ năm 1994) đang có sự nỗ lực rất lớn. Chúng ta đã cất bốc được hơn 68.500 hài cốt liệt sĩ, trong đó có hơn 37.000 hài cốt liệt sĩ hy sinh trong nước; hơn 18.500 hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh ở chiến trường Lào; hơn 13.000 hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh ở chiến trường Căm-pu-chia; hàng ngàn khu nghĩa trang, bia tượng niệm, nhà thả hoa  được xây dựng để tưởng nhớ công lao của các anh hùng đã hy sinh[13].

Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, từ năm 1995 đến nay, Nhà nước ta đã phong và truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” cho 49.718 bà mẹ trong cả nước. Khảo sát gần 5000 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng cho thấy, hầu hết các mẹ đều có cuộc sống vật chất đầy đủ, tinh thần vui vẻ, được chăm sóc y tế chu đáo. Ngoài trợ cấp của Nhà nước theo định suất hằng tháng, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đều được các cơ quan, doanh nghiệp hoặc cá nhân phụng dưỡng với sự yêu thương, kính trọng và biết ơn sâu sắc.

Với gia đình có công, ngoài chính sách trợ cấp ưu đãi thư­ờng xuyên, Nhà nước còn ban hành nhiều chính sách ưu đãi khác đối nh­ư: chính sách ư­u đãi về nhà ở (xây dựng trên 300.000 ngôi nhà), trao số tiết kiệm (tặng trên 200.000 sổ tiết kiệm trị giá hàng trăm tỉ đồng)[14]; chính sách ư­u đãi trong giáo dục, đào tạo đối với con người có công; chính sách chăm sóc sức khoẻ; chính sách ư­u tiên vay vốn từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm để phát triển sản xuất; chính sách hỗ trợ các cơ sở sản xuất, kinh doanh của thư­ơng bệnh binh và ngư­ời có công, tạo điều kiện cho con em họ có việc làm, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống… Đến nay, cả nước đã có hơn 85% gia đình chính sách có mức sống bằng và cao hơn mức sống trung bình của nhân dân địa phương nơi cư trú.

Đối với những người nghiện ma túy, gái mại dâm, cờ bạc cũng được cộng đồng quan tâm. Năm 2008, có hơn 45.000 người nghiện ma túy đã qua được các chương trình cai nghiện trong đó có 13.300 cho đi học và có công ăn việc làm. Hơn 3.000 gái mại dâm được cấp thuốc chữa trị, cho đi học nghề và đã có 2000 người tìm được việc làm. 

Trong những Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ nữ. Bên cạnh đó có nhiều cán bộ nữ đã vượt qua khó khăn vươn lên trong cuộc sống. Hiện nay có nhiều phụ nữ nắm giữ những chức vụ chủ chốt ở các ban ngành, nhiều người trở thành giáo sư, tiến sỹ ở các trường đại học, viện nghiên cứu…

Trong những năm qua để bảo vệ cuộc sống yên bình của nhân dân có nhiều chiến sỹ công an nhân dân, bộ đội đã dũng cảm hy sinh trong khi thực hiện nhiệm vụ; nhiều thanh thiếu niên đã không quản ngại khó khăn, thậm chí đánh đổi cả tính mạng của mình để giúp đỡ người khác.

            Kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi chúng ta phải tích cực hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” góp phần thực hiện tốt hơn nữa những mong muốn cao đẹp của Người.

 


[1] Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, tr31

[2] Sdd, tr31.

[3] Sdd, tr31.

[4] Sdd, tr31.

[5] Sdd, tr31, 32.

[6] Sdd, tr31.

[7] Sdd, tr32.

[8] Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, tr32.

[9] Sdd, tr33.

[10] Sdd, tr29.

[11] Sdd, tr29.

[12] Sdd, tr30.

[13] www. Tạpchicongsan.org.vn

[14] www. Tạpchicongsan.org.vn



(Theo Nhà xuất bản Đại học Huế, 9/2009)



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


  Những bản tin khác:




 Học tập và làm theo lời Bác 

 Tìm kiếm 
Tìm trên trang Bác Hồ với Huế
Tìm bằng Google
 Tìm hiểu về Đảng - Chính phủ 

 Tìm hiểu về Bác Hồ 
 Lời dạy của Bác 
Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ:

Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.
Hồ Chí Minh.
 Huế xưa và nay 






 CA KHÚC VỀ BÁC HỒ 

 THƯ VIỆN VIDEO 

 Liên kết website 
 Thông tin liên hệ 
 Số lượt truy cập 
   Tổng lượt truy cập 737300
    Hiện tại có 1 khách
Trang chủ    ¤   Ý kiến của bạn    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Tải Files