Tin mới:   
Nghiên cứu 16.08.2018 15:52
Đoàn kết - Nỗi trăn trở lớn trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
20.04.2013 02:55

CN Nguyễn Thị Quyên - BM MLN&TTHCM, ĐHDL Phú Xuân

Khi nói và viết về cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh, điều mà mọi người, từ nhà khoa học cho đến các chính khách, từ người lãnh đạo quốc gia đến những người dân thường, đồng bào trong nước cũng như bạn bè nước ngoài…, đều cảm nhận, thống nhất và đánh giá cao những cống hiến to lớn của Người trong việc xây dựng khối đại  đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế.

Có thể khẳng định, điều xuyên suốt và nhất quán trong tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh về đoàn kết là nhằm tập hợp lực lượng, phát huy sức mạnh dân tộc, quốc tế vì mục tiêu độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Qua khảo sát bộ Hồ Chí Minh toàn tập (gồm 12 tập), các nhà nghiên cứu thấy rằng tổng số bài mà Hồ Chí Minh đề cập trực tiếp lẫn gián tiếp đến vấn đề đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế chiếm tỷ lệ trên 40% trong toàn bộ những bài nói, bài viết của Người. Trong một số bài, cụm từ “đoàn kết”, “đại đoàn kết” được Hồ Chí Minh nhắc đi nhắc lại nhiều lần với tần suất rất cao, tiêu biểu như: Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947), Người đề cập 16 lần; 17 lần trong bài nói tại Đại hội thống nhất Việt Minh - Liên Việt (1951) và 19 lần trong Diễn văn kỷ niệm Quốc khánh 2/9/1957.

Đặc biệt, trong bản Di chúc thiêng liêng - một tác phẩm rất ngắn, được Người nghiền ngẫm, suy tư, viết và sửa chữa trong 4 năm (từ tháng 5/1965 đến tháng 5/1969), đã 8 lần Người nhắc tới cụm từ “đoàn kết”. Phải chăng đó là nỗi trăn trở lớn nhất của Hồ Chí Minh trước khi đi vào “thế giới người hiền”?

Trong chiến lược tập hợp lực lượng cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã khái quát thực tiễn thành lý luận, lấy đó để làm  khẩu hiệu. Nhưng khẩu hiệu lại là chiều sâu của tư tưởng và đã trở thành chân lý:

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công”.

Nếu xem đoàn kếtlà hạt nhân của 3 vòng tròn đồng tâm thì khẩu hiệu của Hồ Chí Minh đi từ đoàn kết trong Đảng, đến đoàn kết toàn dân tộc và mở rộng ra đoàn kết quốc tế. Điều này có nghĩa là Người xem đoàn kết trong Đảng là gốc, là nền của khối đại đoàn kết trong xã hội. Đoàn kết trong Đảng là nhân tố quyết định, chi phối đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế.

Trong Di chúc chúng ta bắt gặp lại trật tự đó khi Hồ Chí Minh viết “Trước hết nói về Đảng”. Người khẳng định: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”[1]. Mở đầu là thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Tám, năm 1945, lập nên nhà nước Dân chủ cộng hoà đầu tiên ở Đông Nam Á; tiếp đến là thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ, năm 1954, lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, đưa miền Bắc đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội; đó là sự thắng lợi của quân và dân Miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước… Tất cả những chiến công ấy đều xuất phát từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam - một Đảng được Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện và dày công giáo dục đạo đức cách mạng. Nguồn gốc sâu xa của sự lãnh đạo thiên tài ấy, không gì khác mà chính là xuất phát từ truyền thống đoàn kết cực kỳ quý báu của Đảng ta và của nhân dân ta. Người dạy: “sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết, nhất trí”, bởi vậy, “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”[2]. Đó là điều mong muốn lớn nhất mà bản thân Người hằng quan tâm, chăm lo xây dựng để Đảng ta thành một khối đoàn kết, thống nhất và vững mạnh.

Vậy, làm thế nào để thực hiện đoàn kết, đoàn kết được tốt, đoàn kết chặt chẽ, lâu dài và đoàn kết thật sự? Đây là vấn đề được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Chúng ta thấy, Người nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần khi bàn về công tác xây dựng Đảng, Người viết: “Trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kếtvà thống nhất trong Đảng”[3]. Đặc biệt, sau một năm trăn trở, tháng 5 năm 1966 Bác ghi thêm một câu rất quan trọng “Phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau”[4]. Chỉ một câu thôi, nhưng suy cho cùng đó là chiều sâu của triết lý làm người; mà làm người thì phải yêu nước thương dân, thương nhân loại bị áp bức bóc lột. Đó là điểm cơ bản nhất của vấn đề đoàn kết. Bởi vì, nếu không xuất phát từ “Tình đồng chí yêu thương lẫn nhau” thì dù có kêu gọi “tự phê bình và phê bình” thật sôi nổi; dù tuyên bố là “dân chủ”, hay lấy phương châm “đấu tranh thẳng thắn” thì cũng không bao giờ thu được kết quả tốt.

Phải chăng Bác muốn căn dặn với chúng ta lấy “Tình đồng chí yêu thương lẫn nhau” xem đó là điều quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng, cũng như trong vấn đề đảm bảo đoàn kết vững chắc, mà bao trùm lên tất cả là trong các mối quan hệ giữa con người với con người?

Trong các di sản tư tưởng mà Hồ Chí Minh để lại cho hậu thế, đặc biệt là từ trong Di chúc, chúng ta thấy ở Hồ Chí Minh  tình người là cội nguồn của mọi chủ kiến và hành động. Trong buổi nói chuyện tại lớp đảng viên mới do Thành uỷ Hà Nội tổ chức tại trường Chu Văn An, Người đã nói một câu thật thấm thía: “Con người ta trước hết phải có tình, có nghĩa. Nếu đọc bao nhiêu sách chủ nghĩa Mác-Lênin mà sống không có tình, có nghĩa, thì chỉ là giáo điều, sách vở”[5].

Nói đến đoàn kết, Hồ Chí Minh còn khẳng định đó là một truyền thống quý báu không chỉ của Đảng mà trước hết là của nhân dân ta, được chưng cất, kết tinh từ lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đó là tinh thần:

 “Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng”;

Cũng là triết lý nhân sinh:

“Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.

Đó là những nhận thức ban đầu, làm cơ sở vững chắc để sau này, Người khái quát và đánh giá những giá trị truyền thống yêu nước - đoàn kết - nhân nghĩa của dân tộc một cách hoàn hảo. Hồ Chí Minh viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn (đoàn kết), nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”[6].

Đề cập đến truyền thống đoàn kết trong Di chúc, phải chăng Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nhắc nhở nhân dân ta, đồng bào ta phải luôn luôn biết giữ gìn và phát huy truyền thống vốn quý của mình. Từ đó, Người căn dặn Đảng phải có trách nhiệm để khơi dậy truyền thống đó, biến nó thành sức mạnh nhằm phục vụ cách mạng, đem lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho nhân dân!

Ý thức rõ tầm quan trọng của vấn đề đoàn kết quốc tế đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đặt nền móng và dày công vun đắp cho tình hữu nghị giữa các nước dân chủ và tiến bộ ngày càng phát triển tốt đẹp. Đặc biệt, Người rất chú trọng xây dựng tình đoàn kết giữa các đảng Cộng sản và các nước xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, khi bắt tay vào viết Di chúc, Bác đã phải suy nghĩ nhiều về mối bất hoà giữa các đảng anh em trong giai đoạn này, nhất là sự bất hoà nghiêm trọng giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Do đó, trong phần viết “Về phong trào cộng sản thế giới”, Người đã căn dặn những lời tâm huyết và đầy niềm xúc động. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng Cộng sản anh em!

Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kếtgiữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản có lý có tình.

Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại”[7].

Đọc những dòng này chúng ta càng thấm thía biết bao nỗi trăn trở, day dứt của Chủ tịch Hồ Chí Minh - một con người suốt cuộc đời chiến đấu cho độc lập tự do không chỉ đối với dân tộc mình mà còn cho tất cả các dân tộc khác bị áp bức, bị bóc lột, cho tình hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới và cho cả loài người. Người luôn dạy Đảng và nhân dân ta phải chăm lo bảo vệ sự đoàn kết quốc tế, vì sự nghiệp to lớn của cách mạng Việt Nam, vì nghĩa vụ cao cả đối với cách mạng thế giới. Hồ Chí Minh đúng là tượng trưng cao đẹp cho chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng. Trái tim và khối óc của Người dành cho không chỉ dân tộc Việt Nam, mà còn hướng về giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Người chẳng những là nhà yêu nước vĩ đại còn là một chiến sĩ xuất sắc trong phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa ở thế kỷ XX.

Hồ Chí Minh đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho dân tộc Việt Nam với ham muốn tột bậc là “làm sao cho nước nhà được độc lập, nhân dân được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Và điều mong muốn thiết tha cuối cùng của Người là “toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[8].

Như vậy, có thể khẳng định, đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế luôn là tư tưởng xuyên suốt làm nổi bật di sản tư tưởng của Hồ Chí Minh. Đại đoàn kết luôn là nổi trăn trở lớn trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người cho đến cả lúc sắp từ biệt thế giới này, Người vẫn không quên nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân khắc sâu hai từ “đoàn kết”.

40 năm qua chúng ta đã làm được những gì để thực hiện tâm nguyện cuối cùng của Bác? Trên thực tế, tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn cờ tư tưởng, trở thành một bộ phận hữu cơ trong đường lối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã thấm nhuần vào suy nghĩ, tình cảm, cũng như mọi hành động của tất cả những người Việt Nam yêu nước. Đó là sức mạnh trở thành động lực chân chính trong sự tiến hoá của một dân tộc văn minh và tiến bộ.

Sau khi Hồ Chí Minh qua đời, tiếp tục giương cao ngọn cờ đại đoàn kết, Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành những thắng lợi vẻ vang làm rạng rỡ tên tuổi Việt Nam trên trường quốc tế. Đó là thắng lợi của mùa xuân 1975, Bắc - Nam sum họp một nhà; là thành công của công cuộc đổi mới đất nước hơn 20 năm nay, để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng trong thế kỷ XX, từng bước vững chắc tiến lên trên con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, nhằm đẩy lùi dần nghèo nàn, lạc hậu - sớm đưa nước ta thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển.

Trong tác phẩm “Nên học sử ta”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một tổng kết quan trọng về lịch sử dân tộc như sau: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”[9].

Là lực lượng lãnh đạo cách mạng, hơn ai hết Đảng Cộng sản Việt Nam phải thấm nhuần lời dạy về đoàn kết mà Hồ Chí Minh căn dặn để tránh những những vấp váp, sai lầm trong thực tiễn cách mạng.

Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, rất nhiều vận hội đã mở ra cho cả nước. Rất tiếc là ý thức đoàn kết dân tộc lại một lần nữa chưa được duy trì và phát huy, phần nào sao nhãng bởi bệnh chủ quan và say sưa với chiến thắng, bởi những cách nhìn hẹp hòi, biệt phái, bởi chuyện thắng - thua, bởi tâm lý phân biệt nặng nề về ta - nguỵ,…đã làm ảnh hưởng không ít đến chính sách đại đoàn kết của dân tộc.

Trên bình diện quốc tế, có một thời gian dài chúng ta đã duy trì một số chủ trương cứng nhắc quá mức cần thiết, làm cho Việt Nam lâm vào tình cảnh bị cô lập với các nước trong khu vực và trên thế giới mà thật ra đó là những việc không phải hoàn toàn không tránh được. Kết quả là Việt Nam bỏ lỡ rất nhiều cơ hội để có thể hội nhập quốc tế sớm hơn.

Trước nguy cơ tồn vong của chế độ, từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986), Đảng ta đã khởi xướng công cuộc Đổi mới đất nước. Tư tưởng hoà hợp dân tộc lại được phục hưng và thực thi có hiệu lực với những kết quả khả quan, đã làm xích lại gần nhau giữa các dân tộc, các vùng miền kể cả những người trước đây có chính kiến khác ta, ở biên kia chiến tuyến, hiện nay cùng nhau đồng tâm hiệp lực để xây dựng đất nước ngày càng văn minh và giàu mạnh. Quan điểm kinh tế nhiều thành phần, kinh tế thị trường mà Đảng ta thực hiện cũng như tư tưởng Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trên thế giới; chủ trương của Đảng khép lại quá khứ, hướng tới tương lai,… đã giúp cho đất nước khai thác được cả nội lực và ngoại lực để vượt qua khỏi khủng hoảng, liên tiếp thu được những thành quả trên mọi mặt. Từ chính sách đúng đắn đó mà chúng ta thấy, đến thời điểm này, Việt Nam đã đặt quan hệ ngoại giao, hợp tác làm ăn về kinh tế cũng như chính trị, văn hóa với hơn 170/225 quốc gia và vùng lãnh thổ, đặc biệt, chúng ta đã gia nhập vào WTO, APEC, ASEAN, và trở thành thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.

Đảng cũng đã phát động và đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng nhằm xây dựng một Đảng trong sạch, vững mạnh, có sức chiến đấu cao, xứng đáng là người lãnh đạo, là hạt nhân của khối đại đoàn kết dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; củng cố và mở rộng Mặt trận tổ quốc Việt Nam; tập trung phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho nhân dân.

Mặc dù, trong bối cảnh khu vực và thế giới hết sức phức tạp, nhưng vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được xác lập, chiếm được tình cảm của nhiều nước trên thế giới. Đó là hình ảnh một nước Việt Nam vững về chính trị, mạnh về kinh tế, quốc phòng và an ninh được đảm bảo, văn hóa ngày càng phát triển, từng bước vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội, đưa kinh tế  phát triển liên tục với tốc độ cao, cải thiện một bước đáng kể đời sống vật chất – văn hoá tinh thần của nhân dân, uy tín quốc gia ngày càng lớn trong khu vực và trên thế giới. Để có được những kết quả quan trọng đó, có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân là nhờ trí tuệ và bản lĩnh của Đảng ta, dân tộc ta. Điều này, một lần nữa khẳng định con đường mà chúng ta đang đi là đúng hướng, hợp với quy luật phát triển của đất nước và thời đại.

Mặc dù đã có những cố gắng đáng ghi nhận, song chúng ta cũng phải thẳng thắn thừa nhận rằng, ở một số địa phương chiến lược đại đoàn kết của Đảng còn có những hạn chế về hiệu quả thực tế. Đời sống của một bộ phận không nhỏ dân cư còn khó khăn, tình trạng quan liêu, tham nhũng còn xảy ra nghiêm trọng; kỷ cương, phép nước nhiều nơi, nhiều lúc chưa nghiêm; đạo đức xã hội xuống cấp; các vụ khiếu kiện đông người, vượt cấp còn xảy ra,…

Nguyên nhân của những thực trạng đó là do đâu? Do một số cấp uỷ Đảng chưa gương mẫu, để xảy ra mất đoàn kết nội bộ; một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống; việc thực hiện chủ trương, chính sách đoàn kết của Đảng chưa được triệt để, còn thiếu sót; trong khi đó các thế lực thù địch trong và ngoài nước ra sức phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, hòng xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Để xây dựng Việt Nam trở thành một nước hoà bình, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh trong bối cảnh lịch sử mới này, thì việc trở lại nghiên cứu, vận dụng tư tưởng, chiến lược đại đoàn kết của Hồ Chí Minh càng trở nên quan trọng và cần thiết. Thực tiễn cách mạng Việt Nam là minh chứng hùng hồn cho sức sống mãnh liệt của tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh. Thực tiễn 40 năm thực hiện Di chúc của Người càng cho ta thấm thía những trăn trở, băn khoăn, những lời căn dặn của Bác về “ĐOÀN KẾT”.

Để kết thúc bài viết này, tôi xin được nhắc lại lời thề thiêng liêng trong Điếu văn của Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam trước anh linh Hồ Chủ tịch, như một lời khẳng định về quyết tâm tiếp tục thực hiện tâm nguyện cuối cùng của Người của Đảng và toàn dân tộc:

“Vĩnh biệt Người, chúng ta thề:

Hết lòng, hết sức giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, làm hạt nhân cho khối đoàn kết toàn dân, đảm bảo cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam hoàn toàn thắng lợi.

Vĩnh biệt Người, chúng ta thề:

Luôn luôn phát huy tình cảm quốc tế trong sáng của Hồ Chủ tịch, hết lòng góp sức vào việc khắc phục và tăng cường sự đoàn kết, nhất trí trong phe xã hội chủ nghĩa và giữa các đảng anh em trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản; thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc Đông Dương; ra sức ủng hộ phong trào cách mạng của nhân dân các nước, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”[10].



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb CTQG, HN, 2002, tập 12, tr.510

[2] Hồi ký của Vũ Kỳ: Bác Hồ viết Di chúc, Nxb Thuận Hoá, Huế, 2008, tr.67

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb CTQG, HN, 2002, tập 12, tr.510

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb CTQG, HN, 2002, tập 12, tr.510

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb CTQG, HN, 2002, tập 6, tr.171

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb CTQG, HN, 2002, tập 6, tr.171

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb CTQG, HN, 2002, tập 12, tr.512

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb CTQG, HN, 2002, tập 12, tr.512

[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb CTQG, HN, 2002, tập 3, tr.217

[10] Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam: Di chúc của Hồ Chủ tịch, Nxb Tiến bộ, HN, 1989, tr.56.



(Theo Nhà xuất bản Đại học Huế, 9/2009)



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


  Những bản tin khác:




 Học tập và làm theo lời Bác 

 Tiêu điểm 
 Tìm kiếm 
Tìm trên trang Bác Hồ với Huế
Tìm bằng Google
 Tìm hiểu về Đảng - Chính phủ 

 Tìm hiểu về Bác Hồ 
 Lời dạy của Bác 
Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ:

Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.
Hồ Chí Minh.
 Huế xưa và nay 






 CA KHÚC VỀ BÁC HỒ 

 THƯ VIỆN VIDEO 

 Liên kết website 
 Thông tin liên hệ 
 Số lượt truy cập 
   Tổng lượt truy cập 707116
    Hiện tại có 2 khách
Trang chủ    ¤   Ý kiến của bạn    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Tải Files