Tin mới:   
Nghiên cứu 20.10.2018 20:31
Đôi điều về Đảng trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
20.04.2013 02:53

CN Đào Thế Đồng - BMTTHCM, ĐHKH Huế

  

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng những gì Người để lại cho Đảng và nhân dân ta mãi mãi là tài sản tinh thần vô giá. Trong những di sản đó phải kể đến bản Di chúc mà Người đã dành nhiều tâm huyết để gói gọn những điều mà Người muốn nhắn gửi cho toàn thể đồng bào, cán bộ, đảng viên chúng ta.

Vào năm 1965, khi đế quốc Mỹ đưa hơn nửa triệu quân viễn chinh, chư hầu ồ ạt vào miền Nam Việt Nam khiến cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đang bước vào giai đoạn mới đầy cam go, ác liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị tổng chỉ huy tối cao của Đảng và nhân dân Việt Nam, người trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh này - nhận thấy tình hình sức khỏe của mình ngày một yếu đi không thể tiếp tục chỉ đạo cuộc kháng chiến trường chinh cùng với quân dân cả nước để được nhìn thấy miền Nam trong ngày toàn thắng, Nam Bắc sum họp một nhà. Với hi vọng những người học trò, đồng chí của mình sẽ tiếp tục sự nghiệp đấu tranh còn đang dang dở, chủ tịch Hồ Chí Minh chủ động viết Di chúc nhằm nhắn gửi, căn dặn cho Đảng và cho toàn thể nhân dân ta về những nguyện ước cuối cùng của Người. Ngày 10/05/1965 Người bắt tay ngay vào việc viết tài liệu "Tuyệt đối bí mật" (Di chúc).  Người viết bản Di chúc dài bốn trang, do chính tay Người đánh máy, ở cuối đề ngày 15/05/1965. Đây là bản Di chúc hoàn chỉnh, có chữ ký của Người và bên cạnh có chữ ký xác nhận của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lúc bấy giờ. Đến năm 1968, Người viết bổ sung thêm một số đoạn, gồm 6 trang viết tay. Trong những ngày 10/05/1969, Người viết lại toàn bộ đoạn mở đầu Di chúc, gồm một trang viết tay.

Bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công bố một phần trong lễ tang của Người vào ngày 3/9/1969 cho đông đảo đồng bào trong cả nước biết. Những năm sau ngày đất nước thống nhất Đảng ta và Bộ chính trị nhận thấy đây là thời điểm thích hợp để công bố những phần còn lại trong Di chúc của Người với công chúng. Ngày 19/8/1989 Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VI ra Thông báo số 151-TB/TW: về một số vấn đề liên quan đến Di chúc và ngày qua đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã khẳng định bản Di chúc công bố ngày 3/9/1969 là “bảo đảm trung thành với bản gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Một số vấn đề mà Hồ Chí Minh đề cập như những việc cần làm sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, miễn giảm thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp, cho bà con nông dân cũng như đề nghị của Người về việc hoả táng thi hài chưa được công bố trước đó. Thông báo của Trung ương cũng đã giải thích rõ lý do việc này. Vào dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) đã quyết định công bố toàn văn các bản Di chúc của Người được viết từ tháng 5/1965 cho đến 5/1969.

 Toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh những tinh hoa văn hóa truyền thống của dân tộc kết hợp với trí tuệ của thời đại, mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong Di chúc thể hiện rõ một nhân cách lớn, một tâm hồn cao đẹp của Người, chứa đựng những điều tiên tri, tiên lượng của Người, định ra phương hướng phát triển cho cách mạng Việt Nam. Cho đến ngày nay, bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn được coi là một văn kiện lịch sử quý giá, còn nguyên tính thời sự của nó

Trong bản Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề về Đảng là một trong những vấn đề mà Người quan tâm, trăn trở nhất. Đó là vấn đề hết sức quan trọng mà trước khi ra "đi gặp các cụ Các Mác, Lênin" Người không quên dặn dò cho tất cả cán bộ, đảng viên cũng như toàn thể nhân dân Việt Nam phải đặc biệt chú ý. Người căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[1].

Đảng cầm quyền là một vấn đề hết sức quan trọng trong cách mạng. Thông qua lý luận và thực tiễn của các cuộc đấu tranh, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng sự thành bại của cách mạng phụ thuộc vào Đảng cách mạng có sáng suốt, tài tình hay không. Quan điểm này được thể hiện một cách nhất quán xuyên suốt trong tư duy của Người. Ngay như trong các bài giảng cho những thanh niên yêu nước Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc (sau này được tập hợp in thành tác phẩm Đường Cách mệnh), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra vấn đề: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?” và lý giải cho câu hỏi này: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm nòng cốt. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”[2]. Để có một đảng cách mạng vững mạnh có đủ sức lãnh đạo quần chúng đến thắng lợi, Người đòi hỏi Đảng cách mạng đó được trang bị cho mình một vũ khí lý luận sắc bén, khoa học, cách mạng, chắc chắn. Người khẳng định, Đảng phải được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm "cốt", vì đó là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”. Được chủ nghĩa Mác-Lênin soi sáng, Người đã dày công xây dựng, giáo dục, rèn luyện Đảng ta với tâm nguyện cao cả là Đảng phải trở thành tổ chức chính trị cao nhất của giai cấp công nhân, nhân dân lao động vào của toàn thể dân tộc. Đảng phải hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc, thời đại như điều mà Lênin đã dặn. Ngay từ khi ra đời, dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin, và sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giành được quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trở thành nhân tố quyết định chủ yếu đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Vị trí lãnh đạo mà Đảng có được đối với cách mạng Việt Nam không phải là một đặc quyền do Đảng được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ra hay do Đảng tự phong, mà thông qua "tôi luyện" thử thách trong chiến đấu cũng như mục đích tự thân của Đảng không có gì khác hơn là “lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản”[3] và cũng không ngoài việc "đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc" nên đã được nhân dân thừa nhận. Vì vậy, “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”[4]. “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc thì Đảng không có lợi ích gì khác. Cho nên Đảng phải ra sức tổ chức nhân dân, lãnh đạo nhân dân để giải phóng nhân dân và để nâng cao sinh hoạt, văn hóa, chính trị của nhân dân. Vì toàn dân được giải phóng, tức là Đảng được giải phóng”[5]. Chính điều đó mà ngay từ khi Đảng vừa mới ra đời, Đảng đã được nhân dân tin yêu, tín nhiệm mến phục tự nguyện đứng lên đi theo tiếng gọi của Đảng để đập tan ách xiềng xích của phong kiến thực dân để giải phóng cho bản thân mình và dân tộc.

Điều cốt tử để tạo nên sức mạnh to lớn trong Đảng chính là phải biết tập hợp, phát huy được sức mạnh to lớn của nhân dân thông qua chiến lược đại đoàn kết. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cái sức mạnh vô địch mà ta có thể thắng quân địch giành độc lập thống nhất là sự đoàn kết”, “ Bất kỳ khó khăn gì, bất kỳ công việc to mấy ta đoàn kết đều làm được hết cả”, “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”[6]. Điều mà sau này Người đã đúc kết thành một chân lý: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công"[7]. Vì vậy, Đảng phải trở thành hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân để thực hiện đoàn kết dân tộc, giai cấp và mở rộng đoàn kết quốc tế.

Ngay trong phần đầu bản Di chúc khi nói về Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trước hết nói về Đảng, nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”[8]. Cho đến cuối bản Di chúc Người luôn mong muốn một điều: "Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới"[9]. Suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho Đảng và hướng đến việc xây dựng rèn luyện Đảng ta không chỉ trở thành một đảng kiểu mới đại diện cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc mà còn hướng đến xây dựng một Đảng: đạo đức, lương tri, danh dự của nhân loại.

Để thực hiện được sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ đảng viên cần phải tuân thủ các nguyên tắc Đảng kiểu mới như: nguyên tắc tập trung dân chủ;  nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách; nguyên tắc tự phê bình và phê bình; nguyên tắc kỷ luật nghiêm minh và tự giác; nguyên tắc đoàn kết trong đảng nhằm làm cho mỗi đảng viên, tổ chức Đảng thật sự trong sạch và vững mạnh. Người căn dặn: "Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau"[10]. Theo Người thì đây chính là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết trong Đảng cũng như mở rộng chiến lược đại đoàn kết ra toàn xã hội.

Cuộc tổng khởi nghĩa mùa thu tháng 8/1945 của toàn thể nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đưa lịch sử Việt Nam bước sang trang mới - độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Bằng thắng lợi đó Đảng ta đã chính thức trở thành đảng cầm quyền trong cả nước. Với yêu cầu, nhiệm vụ lịch sử mới đặt ra đòi hỏi Đảng cần phải nâng cao hơn nữa năng lực, phẩm chất để lãnh đạo nhân dân tiếp tục cuộc kháng chiến và kiến quốc.

Để giữ vai trò lãnh đạo đối với toàn xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc làm trước tiên, cần kíp, thường xuyên, liên tục. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ tính hai mặt của quyền lực chính trị và nguy cơ của sự “tha hoá quyền lực”. Một mặt, quyền lực có sức mạnh to lớn để cải tạo cái cũ, xây dựng cái mới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nếu như quyền lực được sử dụng đúng. Mặt khác nó cũng có sức phá hoại ghê gớm nếu đi vào con đường đam mê quyền lực, chạy theo quyền lực, tranh giành quyền lực... sẽ gây hậu quả khôn lường cho xã hội, cho nhân dân. Vì vậy, Đảng phải đặc biệt quan tâm đến việc chỉnh đốn và đổi mới trong Đảng để hạn chế, ngăn ngừa, tẩy trừ mọi tệ nạn do sự thoái hóa biến chất gây ra trong điều kiện Đảng cầm quyền. .Trong Di chúc chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân”[11].

Bởi có một điều dễ hiểu, khi cách mạng giành được thắng lợi người ta rất dễ rơi vào căn bệnh kiêu ngạo, tự mãn, chủ quan, duy ý chí. Cán bộ, đảng viên rất dễ bị sa ngã trước sự quyến rũ của uy quyền và tiền bạc, rất dễ đánh mất mình, dễ mắc phải những thói hư, tật xấu trong điều kiện mới như hống hách, chuyên quyền, độc đoán, lên mặt quan cách, hẹp hòi, tư túi.., làm mất uy tín của Đảng. Ngay từ năm 1947 vào lúc chính quyền mới được thiết lập, đang còn phôi thai Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đưa ra lời cảnh tỉnh đối với cán bộ, đảng viên thông qua "Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ" và cuốn sách "Sửa đổi lề lối làm việc" về những hiểm họa của sự suy thoái của một đảng cầm quyền. Người căn dặn rằng: "Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân"[12].

Từ thực tế đó, chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi phải chăm lo giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và nhân dân về đạo đức cách mạng. Người đã từng khẳng định, gốc của cách mạng là nhân dân, gốc của mọi công việc là cán bộ, gốc của cán bộ đó chính là đạo đức. Người nói: "Mọi việc thành hay bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không"[13]. Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi công việc xây dựng và rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân là vấn đề sống còn của cách mạng. Như Người viết: "cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân"[14]. "Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang"[15].

Những chuẩn mực đạo đức mới - đạo đức cách mạng - được Hồ Chí Minh xây dựng để bồi dưỡng, rèn luyện cho cán bộ đảng viên và nhân dân đó chính là những phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đó cũng chính là vấn đề then chốt nhất đảm bảo sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, làm cho Đảng thực sự là người lãnh đạo, là đầy tớ trung thành của nhân dân. Trước lúc đi xa, Người không quên căn dặn: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”[16]. Đó chính là chuẩn mực giá trị đạo đức và đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên, là trách nhiệm của các tổ chức Đảng trong giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng để tự hoàn thiện tổ chức, hoàn thiện mỗi cá nhân, là tiền đề bảo đảm cho Đảng làm tròn nhiệm vụ của một đảng cầm quyền trong điều kiện mới.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn trong Di chúc về vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa được thực hiện một cách thường xuyên và trọn vẹn. Trong những năm gần đây có không ít cơ sở, địa phương, cơ quan, đơn vị xảy ra tình trạng mất đoàn kết nội bộ nghiêm trọng, kéo dài. Hiện tượng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng và chính quyền vẫn còn diễn ra. Việc thực hiện tự phê bình và phê bình vẫn còn mang nặng tính hình thức, đại khái; Chưa chú trọng đến việc giáo dục, rèn luyện, kiểm tra và xử lý một cách nghiêm minh, kịp thời đối với những đảng viên, cán bộ có hành vi, biểu hiện tham nhũng, hối lộ, quan liêu, chuyên quyền, độc đoán. Tình trạng xa rời quần chúng nhân dân, không bám sát tâm tư nguyện vọng chính đáng của người dân, vô cảm trước dân, sách nhiễu nhân dân, cục bộ địa phương kéo bè kéo cánh, nói không đi đôi với làm... Đó chính là những biểu hiện của tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Điều này đã được chỉ ra trong nhiều nghị quyết của Đảng. Đây chính là những vấn đề nhức nhối, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ và vai trò lãnh đạo của Đảng. Những năm trở lại đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp mạnh để ngăn chặn, đẩy lùi, khắc phục và xóa bỏ những tiêu cực đó; tuy nhiên, hiệu quả của cuộc đấu tranh vẫn chưa đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Đọc lại và ngẫm suy trước những điều chỉ dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc, mỗi cán bộ, đảng viên hơn lúc nào hết cần phải ra sức học tập và hành động theo những lời của Người: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”[17]. Phải tập trung xây dựng Đảng trên tất cả mọi mặt: tư tưởng - lý luận, chính trị, tổ chức, đạo đức và con người nhằm làm cho Đảng thật trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, thống nhất, đạt đến chiều cao về đạo đức, bản lĩnh, trí tuệ, "xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[18]. Đây có thể xem là những mục tiêu trước mắt và lâu dài trong công tác xây dựng Đảng giai đoạn hiện nay.

Trải qua 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng nhân dân ta đã gặt hái được những thành quả hết sức to lớn trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, chính trị, ngoại giao... Bên cạnh đó trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay do Đảng ta lĩnh xướng và lãnh đạo, những khó khăn và thuận lợi, những thời cơ vàng và cả hiểm họa đen luôn đan xen lẫn nhau. Để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, thì xét đến cùng chúng ta cần phải bắt đầu thực hiện tốt lời căn dặn "trước hết" của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc của Người.



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 498, 510.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 267-268.

[3] Sđd, tập 3, trang 5..

[4] Sđd, tập 5, trang 249.

[5] Sđd, tập 5, trang 250.

[6] Sđd, tập 11, trang 154.

[7] Sđd, tập 10, trang 349, 350, 607.

[8] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 497, 510.

[9] Sđd, tập 12, trang 500, 512.

[10] Sđd, tập 12, trang 497-498, 510.

[11] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 503.

[12] Sđd, tập 12, trang 557-558.

[13] Sđd, tập 6, trang 163-164.

[14] Sđd, tập 5, trang 252-253.

[15] Sđd, tập 5, trang 148.

[16] Sđd, tập 12, trang 498, 510.

[17] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 4, trang 56-57.

[18] Sđd, tập 12, trang 498, 510.



(Theo Nhà xuất bản Đại học Huế, 9/2009)



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


  Những bản tin khác:




 Học tập và làm theo lời Bác 

 Tìm kiếm 
Tìm trên trang Bác Hồ với Huế
Tìm bằng Google
 Tìm hiểu về Đảng - Chính phủ 

 Tìm hiểu về Bác Hồ 
 Lời dạy của Bác 
Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ:

Nhiệm vụ của thanh niên không phải là đòi hỏi Nước nhà đã cho mình những gì, mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho Nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi Nước nhà nhiều hơn ? Mình đã vì lợi ích Nước nhà mà hy sinh phấn đấu đến chừng nào?
Hồ Chí Minh.
 Huế xưa và nay 






 CA KHÚC VỀ BÁC HỒ 

 THƯ VIỆN VIDEO 

 Liên kết website 
 Thông tin liên hệ 
 Số lượt truy cập 
   Tổng lượt truy cập 737305
    Hiện tại có 1 khách
Trang chủ    ¤   Ý kiến của bạn    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Tải Files