Tin mới:   
Nghiên cứu 20.06.2018 18:27
Mấy suy nghĩ về quan điểm “Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền” trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
20.04.2013 02:50

ThS Đinh Thị Phòng - Khoa LLCT, ĐHKH Huế

  

Đảng cầm quyền là khái niệm dùng trong khoa học chính trị, chỉ một đảng chính trị đại diện cho một giai cấp đang nắm giữ và lãnh đạo chính quyền để điều hành, quản lý đất nước nhằm thực hiện lợi ích của giai cấp đó. Ở nước ta, Đảng cầm quyền tức là chính quyền thuộc về nhân dân và chính quyền do Đảng lãnh đạo; thông qua việc cầm quyền, Đảng thực hiện quyền lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội, chịu trách nhiệm về vận mệnh của dân tộc và xã hội. Phương thức lãnh đạo của Đảng từ 1945 đến nay đã thay đổi căn bản so với trước 1945. Nội dung của sự thay đổi căn bản đó là: Đảng phải coi trọng và tôn trọng chính quyền, tuân thủ pháp luật. Đảng thực hiện dân chủ và công khai. Đảng phải có đủ năng lực, trí tuệ, phẩm chất, định ra đường lối, chủ trương, chính sách trên mọi lĩnh vực đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển đất nước. Đảng luôn luôn phải đề phòng và tích cực chống quan liêu hoá, hành chính hoá, xa rời quần chúng, tham nhũng và cửa quyền.

Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt cụm từ “Đảng cầm quyền” trong bản Di chúc để lại cho muôn đời sau rằng: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân[1]. Cụm từ “Đảng cầm quyền” lần đầu tiên được Người sử dụng trong Di chúc, nhưng tư tưởng về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền của Người đã hình thành, phát triển và hoàn thiện cùng với tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tư tưởng ấy được thể hiện rõ ở các nội dung sau: 

1) Khi chưa có chính quyền, Đảng cầm quyền tức là Đảng lãnh đạo nhân dân giành chính quyền, để trở thành đảng cầm quyền

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của Tổ Quốc, của nhân dân. Đó là mục tiêu, lý tưởng cao cả không bao giờ thay đổi trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng ta. Khi chưa có chính quyền, nhiệm vụ chính trị hàng đầu của Đảng là lãnh đạo nhân dân lật đổ chính quyền bè lũ thực dân và phong kiến, thiết lập chính quyền nhân dân. Phương thức lãnh đạo chủ yếu của Đảng là giáo dục, thuyết phục, vận động tổ chức quần chúng, đưa quần chúng vào đấu tranh giành chính quyền. “Người cộng sản chúng ta không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ Quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới”[2]. Mục đích, lý tưởng của Đảng là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, nhằm xây dựng cuộc sống ấm no cho nhân dân và tiến lên CNXH. Đảng Cộng sản Việt Nam được sự tổ chức, rèn luyện, giáo dục của Hồ Chí Minh, với đường lối chính trị đúng đắn, tổ chức chặt chẽ, đã lãnh đạo toàn dân tộc chiến đấu oanh liệt, giành được chính quyền, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đó cũng là thời điểm Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền.

2) Khi đã có chính quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền phải thực hiện những nội dung sau:

Thứ nhất, Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đây là luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về đảng cầm quyền.

“Đảng lãnh đạo”: tức là Đảng là tổ chức lãnh đạo duy nhất đối với toàn bộ xã hội. Đối tượng lãnh đạo của Đảng là toàn thể nhân dân Việt Nam nhằm đưa lại độc lập cho dân tộc, hạnh phúc ấm no cho nhân dân. Muốn vậy Đảng phải có tư cách, phẩm chất, năng lực cần thiết. Đảng lãnh đạo nhân dân bằng cách tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, giác ngộ quần chúng, “phải đi theo đường lối quần chúng, không được quan liêu, mệnh lệnh và gò ép nhân dân”. Đồng thời, Đảng phải tập hợp, đoàn kết nhân dân thành một khối thống nhất, bày cách cho dân và hướng dẫn họ hành động. Đảng phải sâu sát, gắn bó mật thiết với nhân dân, khiêm tốn học hỏi nhân dân, chịu sự kiểm soát của nhân dân. Để thực hiện đầy đủ chức năng lãnh đạo, Đảng phải thực hiện chế độ kiểm tra và phát huy vai trò tiên phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

“Đảng là đầy tớ thật trung thành của nhân dân” tức là Đảng “tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân nhằm đem lại các quyền và lợi ích cho nhân dân”. “Việc gì có lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được. Việc gì hại cho dân, thì phải hết sức tránh”[3]. Mỗi cán bộ, đảng viên đều là “công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”[4]. Là đầy tớ của nhân dân, theo tư tưởng Hồ Chí Minh còn đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ; phải tích cực tuyên truyền vận động quần chúng đi theo Đảng, đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi cuối cùng.

Như vậy, “lãnh đạo” và “đầy tớ” là hai khái niệm được Hồ Chí Minh sử dụng trong mối quan hệ biện chứng với nhau vì cùng chung một mục đích là: vì dân. Làm tốt cả hai vai trò này là cơ sở đảm bảo uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng. Người xác định rõ trách nhiệm của Đảng cầm quyền, thì Đảng phải là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Người khẳng định chế độ ta là chế độ dân chủ, dân là chủ và dân làm chủ, dân có quyền hạn rất lớn. Đảng cầm quyền là phải phấn đấu đưa lại lợi ích cho dân. Cái gốc của việc xác định trách nhiệm của Đảng đối với dân là mọi cán bộ, đảng viên cả ở cương vị tổ chức và cá nhân phải xác định mình ở vị trí “người phục vụ”, “người đầy tớ” của dân. Người nhắc nhở “chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của chính phủ, từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”[5]. Người thường căn dặn, mọi cán bộ, đảng viên phải chăm lo tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, phải chí công, vô tư, cần kiệm, liêm chính, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, phải luôn yêu kính dân, tôn trọng quyền làm chủ của dân, học hỏi ở dân, thật thà, ngay thẳng, không dấu dốt, không dấu khuyết điểm, sai lầm, phải thực sự cầu thị, phải dựa vào dân, giáo dục và phát động dân tiến hành thắng lợi mọi nhiệm vụ của cách mạng vì lợi ích của dân. Người khẳng định: “Cán bộ Đảng, cán bộ chính quyền không phải làm quan cách mạng ăn trên, ngồi trốc. Cán bộ Đảng cũng như cán bộ chính quyền, ngay cả Bác là cán bộ cao nhất đều là đầy tớ của nhân dân, phải hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân”[6]. Người cũng xác định rõ trách nhiệm của Đảng cầm quyền là chăm lo đời sống của nhân dân lao động và coi đó là trách nhiệm cao cả của Đảng. Ngay từ những năm 1920 - 1930, Người đã có dự định về Đảng cầm quyền là phải vạch ra một kế hoạch chi tiết về sản xuất  và tiêu thụ. Nào là bảo vệ và phát triển lành mạnh cho trẻ em; Giáo dục và lao động nghĩa vụ đối với thanh niên; Nghiêm khắc lên án bọn ăn bám; Nghỉ nghơi cho người già... Sau này, khi đã có chính quyền, Người dạy: “Đảng ta phải làm nhiều chuyện: xây dựng Nhà nước, xây dựng hợp tác xã, làm sao cho người nông dân, người công nhân ăn no, mặc ấm, làm sao cho nước ngày càng giàu mạnh, dân ngày càng giàu..”, “Dân không đủ muối, Đảng phải lo; Dân không có gạo ăn đủ no, Đảng phải lo.. Ngay cả đến tương, cà, mắm, muối của dân Đảng đều phải lo”[7]. “Nếu dân đói, Đảng và chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng, chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng, chính phủ có lỗi.. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của Đảng dù có hay mấy cũng không thực hiện được”[8]. Trong “Di chúc” lịch sử để lại cho muôn đời sau, Người đã trân trọng đề nghị, “sau khi kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, Đảng và Chính phủ cần miễn thuế nông nghiệp cho nông dân một năm, Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế, nâng cao không ngừng đời sống của nhân dân”[9].

Thứ hai, Đảng cầm quyền, dân là chủ.

Đảng cầm quyền, tức mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Nhân dân không tự mình thực hiện quyền lực đó mà chọn Đảng làm người đại diện, lãnh đạo xã hội để thực hiện quyền lực và lợi ích của mình. Theo Hồ Chí Minh, cách mạng triệt để phải là quyền lực thuộc về nhân dân. Người nói: “Cách mạng rồi thì giao quyền cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một số ít người”[10]. Quyền lực thuộc về nhân dân là bản chất, nguyên tắc của chế độ mới, xa rời nguyên tắc này Đảng sẽ trở nên đối lập với nhân dân. Dân là chủ, Đảng lãnh đạo, Đảng phải lấy “dân làm gốc”. Đồng thời, dân muốn làm chủ thực sự cũng phải tích cực tham gia xây dựng chính quyền, làm tròn nghĩa vụ và quyền hạn của mình. Đảng cầm quyền là tổ chức của Đảng, mọi cán bộ, đảng viên cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng với dân, phải hiểu rõ và thực hiện đúng mục đích của Đảng là làm việc cho dân, phục vụ cho dân, coi trọng dân, đánh giá cao vai trò của dân, làm hết trách nhiệm của mình với dân.

Nói về vai trò của dân,Người khẳng định: “Nước lấy dân làm gốc”[11]. Dân trong quan niệm của Hồ Chí Minh là rất rộng. Dân bao gồm toàn bộ những người lao động và những người yêu nước, bao gồm nhiều giai cấp, tầng lớp, thậm chí có cả những người thuộc giai cấp bóc lột, nhưng tất thảy đều chung nhau tinh thần yêu nước, trung thành với bản chất giai cấp công nhân. Với phạm trù “dân” như vậy, Người đã rút ra bài học: “Cách mạng Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mạng thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc”[12]. Người cũng nhấn mạnh: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”. Người cũng khẳng định: “Nêu không có nhân dân thì chính phủ không đủ lực lượng”[13]để kháng chiến và kiến quốc. Người chỉ rõ nguyên nhân thắng lợi của cách mạng là do Đảng lãnh đạo tổ chức và lãnh đạo quần chúng nhân dân. Quần chúng nhân dân là lực lượng vô tận của cách mạng. Cách mạng thành công là do quần chúng. Người thường nhắc nhở: “Dễ một lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”, và Người cũng nhấn mạnh “Chính phủ cộng hoà dân chủ là gì? Là đầy tớ của dân, từ chủ tịch toàn quốc đến làng, dân là chủ thì chính phủ là đầy tớ. Làm việc ngày nay không phải là để thăng quan, phát tài. Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ”[14]. Người coi dân là gốc của Đại đoàn kết, lực lượng là ở dân, quyền lợi cũng ở dân, dân có quyền tối cao trong xã hội do Đảng cầm quyền”[15]. Như vậy, Đảng cầm quyền thì tất cả quyền hành, lực lượng, lợi ích, trách nhiệm là của dân. Đảng và Nhà nước là do dân lập ra, được dân uỷ quyền để thực hiện ý nguyện của dân, vừa lãnh đạo dân nhưng vừa là đầy tớ trung thành của dân, đưa lại quyền lợi cho dân.

Nói về trách nhiệm của Đảng đối với dân, vấn đề Người quan tâm hàng đầu là “tất cả đường lối, phương châm, chính sách... của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân nói chung”[16]. Người luôn căn dặn cán bộ, đảng viên ta rằng, việc gì lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì hại cho dân phải hết sức tránh. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm. Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tồn tại, phát triển là vì nhân dân. Mức độ bảo đảm lợi ích của nhân dân là thước đo hiệu qủa cho đường lối, chủ trương của Đảng. Chính lẽ này, mà Người từng nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là nước ta hoàn toàn được độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo măc, ai cũng được học hành”. Người chỉ rõ: “Chính phủ ta là chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân”[17]. Khi khẳng định nước ta phải xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, Người đã nêu một cách cụ thể “chúng ta tiến lên xây dựng một nước xã hội chủ nghĩa tức là một nước có cuộc đời ấm no, bình đẳng, tự do và độc lập, tức là một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”[18]. Đảng có quyền lực chính trị, quyền lãnh đạo toàn diện đối với Nhà nước và với toàn xã hội, nhưng đảng không có quyền lực nhà nước. Quyền lực của Đảng chủ yếu dựa trên quyền uy do uy tín, trí tuệ định hướng chính trị đúng đắn mang lại. Tức là Đảng phải có uy tín trong nhân dân, phải được dân tin yêu. Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu. Đảng phải kiên quyết chống lại các thói hư tật xấu và bổ sung vào đó những phẩm chất mới như đạo đức cách mạng, vấn đề dân chủ, văn minh, trí tuệ. Trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc”, viết tháng 10 năm 1947, Người khẳng định: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ Quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”[19]. Trong bài “Thất bại và thành công” đăng trên báo Sự Thật ngày 19 tháng 8 năm 1949, Người nhắc nhở: “Cán bộ được dân tin, dân phục, dân yêu thì việc gì cũng thành công”[20]. Ngày 20 tháng 1 năm 1950, trong thư gửi cho Hội nghị Toàn quốc của Đảng, Người nhấn mạnh: “Riêng về Đảng, các đồng chí hãy kiểm thảo sự lãnh đạo của Đảng về chính trị, và tổ chức, đề cao tinh thần phê bình và tự phê bình trong Đảng, tổ chức việc học tập lý luận và sửa đổi lề lối làm việc, để cho Đảng ta thành một lực lượng rất mạnh, đưa dân tộc đến bước thành công”[21]. Trong bài viết “Người Đảng viên Đảng Lao động Việt Nam phải như thế nào?” đăng trên báo Nhân dân ngày 25 tháng 3 năm 1951, Người nêu rõ: “Mỗi đảng viên là một người thay mặt Đảng và Chính phủ để giải thích chính sách của Đảng và Chính phủ cho quần chúng hiểu rõ mà vui lòng thi hành. Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành thì người đảng viên ắt phải xung phong, làm gương mẫu, để quần chúng bắt chước làm theo. Mà muốn quần chúng nhe lời mình, làm theo lời mình thì người đảng viên từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu. Thế là làm cho dân tin Đảng, phục Đảng, yêu Đảng và làm theo chính sách của Đảng và Chính phủ”[22].

3) Đảng Cộng sản Việt Nam muốn thực sự là một Đảng cầm quyền thì Đảng phải thường xuyên chỉnh đốn Đảng.

Trong “Di chúc” bổ sung tháng 5/1968, Bác viết “Theo ý tôi, việc cần làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”[23]. Theo Người, cần thiết phải chỉnh đốn Đảng là vì:

Thứ nhất,khi Đảng trở thành một đảng cầm quyền thì có nhiều cán bộ, đảng viên dễ phạm những sai lầm nghiêm trọng như kiêu ngạo, cậy thế, hủ hoá, tư túi, chia rẽ v.v... Chính lẽ đó, ngày 1/3/1947, trong thư gửi các đồng chí đảng viên ở Bắc Bộ, Người nêu lên “những khuyết điểm cần khắc phục như địa phương chủ nghĩa, óc bè phái, óc quân phiệt, quan liêu, óc hẹp hòi, vô kỷ luật, ích kỷ, hủ hoá...”. Người nhấn mạnh “Kiên quyết khắc phục những khuyết điểm kể trên thì chúng ta mới chắc chắn đi đến hoàn toàn thắng lợi”[24]. Tháng 10 năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc” Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm lỗi lầm. Người cho rằng, khuyết điểm, lỗi lầm nặng nề còn nguy hại hơn giặc ngoại xâm. Ngày 23 tháng 9 năm 1948, trong bài “Cách làm việc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, Người viết: “Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan, kết quả là hỏng việc. Phụ trách không do cá nhân thì sẽ đi đến bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”[25]. Ngày 15 tháng 10 năm 1948, với bài “Chủ nghĩa cá nhân”, Người phê phán một số biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân: “Ngày thường thì kỷ luật kém, khi có vấn đề nghiêm trọng thì hoang mang. Lúc tính toán công việc thì đặt lợi ích cá nhân mình lên trên lợi ích chung... Do chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra quan liêu, kềnh càng; kiêu ngạo, chậm chạp, làm cho qua chuyện, ham chuộng hình thức”[26].

Trong báo cáo chính trị quan trọng đọc tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ hai của Đảng năm 1951, Người đã chỉ rõ “những sai lầm khuyết điểm của Đảng”[27]cần phải khắc phục. Tháng 1 năm 1965, nói chuyện tại Hội nghị bồi dưỡng chỉnh huấn do Trung ương triệu tập, Người căn dặn: “Mỗi chúng ta đều phải biết đặt lợi ích của dân tộc, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, phải biết quên mình cho chủ nghĩa lớn. Muốn giữ gìn trong sáng chủ nghĩa Mác-Lênin thì trước hết phải tự mình trong sáng. Muốn đánh đổ kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc, muốn xây  dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải chiến thắng kẻ thù bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân”[28].Điều này còn được Người nhấn mạnh lại trong bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” đăng trên báo “Nhân dâ” ngày 3 tháng 2 năm 1969.

Thứ hai, khi Đảng trở thành một Đảng cầm quyền, người Đảng viên phải hiểu mình làm việc cho ai. Người đã nhiều lần khẳng định: Đảng viên và bản thân Đảng, Chính phủ đều phải vì nhân dân mà phục vụ. Trọn đời mình, Hồ Chí Minh đã thực hiện đúng như vậy. Chúng ta có thể thấy rõ  trong tư tưởng Hồ Chí Minh: Trước hết, Để chăm lo cho Đảng cầm quyền với tư cách là do uy tín, trí tuệ định hướng chính trị đúng đắn mang lại, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người luôn giữ gìn, thực hiện và căn dặn cán bộ , đảng viên luôn nâng cao trình độ lý luận, tu dưỡng rèn luyện đạo đức cách mạng nhằm giữ gìn uy tín của Đảng trong nhân dân, để dân yêu Đảng, tin Đảng, làm theo Đảng. Người luôn vừa nêu gương, vừa viết bài và nói chuyện nhiều về vấn đề này. Người viết “Tự phê bình và phê bình” đăng trên báo Nhân Dân ngày 12 tháng 2 năm 1952. Trong báo cáo của mình đọc tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung Ương khoá II, Người nêu 5 yêu cầu đối với cán bộ, đảng viên là: Kiên quyết chấp hành đúng chính sách của Đảng và Chính phủ; Đi đúng đường lối quần chúng; Quyết tâm thực hiện đạo đức cách mạng là Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công, Vô tư, quyết tâm tẩy bỏ cho kỳ hết bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí; Làm gương mẫu trong mọi việc thi đua ái quốc: học tập, chiến đấu, tăng gia sản xuất v.v.. Thật thà tự phê bình và phê bình luôn tiến bộ”. Ngày 22 tháng 3 năm 1954, trên báo Nhân Dân, Người nhắc nhở “Toàn thể Đảng viên và cán bộ hãy quyết tâm theo đúng kỷ luật của Đảng”. Tại Hội nghị lần thứ 9, Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam khoá II, Người chỉ rõ, cần phải thực hiện mở rộng phê bình và tự phê bình trong Đảng, trong cơ quan chính quyền và phải hoan nghênh những lời phê bình thành thật của nhân dân. Trong diễn văn khai mạc lớp học Lý luận khoá I, trường Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính Trị Quốc gia Hồ Chí Minh) năm 1957, Người đã chỉ ra những điều vô cùng quý báu cho chỉ đạo việc học tập lý luận của cán bộ, đảng viên ta. Người viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng” thể hiện một cách khoa học nhất, đầy đủ nhất các quan điểm cơ bản về đạo đức cách mạng. Tác phẩm này đã được đăng ở Tạp chí Học Tập sô 12 năm 1958[29]. Nhân kỷ niệm lần thứ 30 ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, và một trong các nhiệm vụ sắp tới của Đảng được Người nhấn mạnh là “Mọi Đảng viên đều phải ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, củng cố lập trường giai cấp vô sản, cố gắng nắm vững những quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, luôn luôn nâng cao đạo đức cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bồi dưỡng chủ nghĩa tập thể của giai cấp vô sản”, “mỗi Đảng viên đều phải cố gắng học tập văn hoá, học tập khoa học kỹ thuật”[30], và “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Người còn chỉ rằng, để làm tốt trách nhiệm người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của dân trong điều kiện Đảng cầm quyền, Người luôn chú trọng nhắc nhở cảnh giác với những nguy cơ xa rời dân, sẽ dẫn đến sự biến chất của Đảng cầm quyền. Bởi thế, Người nói và viết rất nhiều để chống lại một cách kiên quyết các thói hư tật xấu như quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, ô dù, hủ hoá, kiêu ngạo, coi thường dân.. trong hoạt động của các cơ quan chính quyền, Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên. Người đề cao phê bình và tự phê bình, làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng. Người cũng thường căn dặn, tuy Đảng ta nhận trách nhiệm trước dân, lãnh đạo nhân dân, phải phục vụ nhân dân, nhưng không được theo đuôi quần chúng mà phải giáo dục, nâng cao giác ngộ cho quần chúng. Người thường dạy: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” và “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Trong diễn văn khai mạc Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ II của Đảng Cộng sản Việt Nam, Người khẳng định “Đảng ta đã thu được nhiều thắng lợi to lớn, nhưng không phải là không có sai lầm. Song chúng ta không hề che dấu sai lầm, trái lại chúng ta đã thật thà tự phê bình và tích cực sửa chữa”[31].

Nhân kỷ niệm 39 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Người viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, quýet sạch chủ nghĩa cá nhân” đăng trên báo Nhân Dân, Người căn dặn: “Mỗi cán bộ, đảng viên đều đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của Nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”[32].

Kết luận, vấn đề Đảng cầm quyền không phải mãi đến trong “Di chúc” của mình, Hồ Chí Minh mới đặt ra, mà đã được Người đặt ra ngay từ khi sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, và ngay từ khi chúng ta giành được độc lập 1945, Người đã luôn quan tâm Đảng cầm quyền với tư cách Đảng đã nắm chính quyền và sử dụng chính quyền như một công cụ của giai cấp công nhân Việt Nam, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Và vì thế, trước lúc đi gặp C.Mác, Lênin, Người căn dặn “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm khắc tự phê bình và phê bình là cáh tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Đảng ta là một đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[33].




[1] H Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 498, 510

[2] Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 11, tr 372

[3] Hồ Chí Minh: toàn tập, Nhà xut bn STht, Hà Ni, 1985, tập 6, tr 88

[4] Hồ Chí Minh: toàn tập, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1985, tập 4, tr.56

[5] Sđd, tp 4, trang 36

[6] Sđd, tp 7, trang 809

[7] Sđd, tp 9, trang 237-238

[8] Sđd, tp 7, trang 260

[9] Xem Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, tr.533, 511.

[10] Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 2, tr.270

[11] H Chí Minh toàn tp, Nhà xut bn STht, Hà Ni, 1985, Tp 5, Trang 77

[12] H Chí Minh toàn tp, Nhà xut bn STht, Hà Ni, 1985, Tp 2, Trang 207

[13] Sđd, Tp 4, Trang 35

[14] Sđd, Tp 2, Trang 192

[15] Sđd, tp 5, trang 299

[16] Sđd, tp 9, trang 136

[17] Sđd, tp 7, trang 48

[18] Sđd, tp 8, trang 452-453

[19] H Chí Minh toàn tp, Nhà xut bn STht, Hà Ni 1984, Tp 4, Trang 463

[20] H Chí Minh, Nhng s kin, Nhà xut bn Thông tin lý lun, Hà Ni 1987, Trang 48

[21] Sđd, Trang 155

[22] H Chí Minh toàn tp, Nhà xut bn STht, Hà Ni 1984, tp 1, trang 167-168

[23] H Chí Minh toàn tp, Nxb CTQG, Hà Ni, 2000, tp 12, trang 503

[24] Xem H Chí Minh, Nhng s kin, Nhà xut bn Thông tin lý lun, Hà Ni 1987, trang 115

[25] Sđd, Trang 135, 233

[26] Sđd, Trang 136

[27] Xem Sđd, Trang 165

[28] Sđd, Trang 358, 359

[29] Xem Hồ Chí Minh những sự kiện,. NXB Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1987, tr 175, 183, 203, 233,

[30] Sđd, Trang 293- 295

[31] Xem Hồ Chí Minh, Những sự kiện, Nhà xuất bản Thông tin lý luận, Hà Nội 1987, Trang 307

[32] Sđd, Trang 399

[33] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, tr 498, 510.




(Theo Nhà xuất bản Đại học Huế, 9/2009)



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


  Những bản tin khác:




 Học tập và làm theo lời Bác 

 Tìm kiếm 
Tìm trên trang Bác Hồ với Huế
Tìm bằng Google
 Tìm hiểu về Đảng - Chính phủ 

 Tìm hiểu về Bác Hồ 
 Lời dạy của Bác 
Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ:

Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.
Hồ Chí Minh.
 Huế xưa và nay 






 CA KHÚC VỀ BÁC HỒ 

 THƯ VIỆN VIDEO 

 Liên kết website 
 Thông tin liên hệ 
 Số lượt truy cập 
   Tổng lượt truy cập 673687
    Hiện tại có 5 khách
Trang chủ    ¤   Ý kiến của bạn    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Tải Files