Tin mới:   
Nghiên cứu 20.06.2018 18:27
Vấn đề xây dựng Đảng trong Di Chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ở Thừa Thiên Huế
20.04.2013 02:48

ThS Trần Thị Thơm - Khoa LLCT, ĐHKH Huế

  

Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu đặt bút viết bản Di chúc vào ngày 10-5-1965, lúc Người đã bước sang tuổi 75. Trong 3 năm sau đó, Người tiếp tục chỉnh sửa bản Di chúc và hoàn chỉnh vào tháng 5-1969. Bản Di chúc tuy ngắn gọn nhưng chứa đựng nhiều trăn trở, tâm huyết trong suốt cuộc đời hoạt động của Bác và nó còn nguyên giá trị trong giai đoạn hiện nay.

Trong phạm vi một bài viết, chúng tôi chỉ tìm hiểu những căn dặn của Người về vấn đề xây dựng Đảng. Từ đó liên hệ cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ở Thừa Thiên Huế.

Trong toàn bộ bản Di chúc, điều trước tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm là vấn đề đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Người tổng kết trong Di chúc: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”[1].

Đoàn kết là một truyền thống quý báu của dân tộc ta. Truyền thống đoàn kết của Đảng có cội nguồn từ truyền thống đoàn kết của dân tộc. Trong lịch sử dân tộc, nhờ vào sự đoàn kết chặt chẽ “Vua tôi đồng lòng, cả nước giúp sức”,  ông cha ta đã làm nên những thắng lợi oanh liệt được ghi vào lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm. Bài học kinh nghiệm thất bại của Hồ Quý Ly trước quân Minh có một nguyên nhân rất quan trọng là sự chia rẽ nội bộ, không đoàn kết được toàn dân tộc.

Nhận thức được vai trò của sự đoàn kết, trong quá trình hoạt động cách mạng, Bác luôn quan tâm xây dựng khối đoàn kết, thống nhất. Khi còn đang hoạt động tại Pháp, Trung Quốc, Người sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa, Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông. Đầu năm 1930, Người tổ chức hội nghị hợp nhất thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã quy tụ ba tổ chức Cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam, theo đường lối đúng đắn, dẫn đến sự thống nhất tư tưởng và hành động của phong trào cách mạng cả nước và nên truyền thống đoàn kết trong Đảng. Sau khi được thành lập, Đảng không ngừng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tập hợp mọi lực lượng trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Để phù hợp với từng thời kỳ cách mạng, Mặt trận dân tộc thống nhất có tên gọi khác nhau, như: Hội phản đế đồng minh thời kỳ 1930-1931; Mặt trận Dân chủ Đông Dương thời kỳ 1936-1939; Mặt trận Việt Minh thời kỳ 1941-1951; Mặt trận Liên Việt 1946-1956; Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam 1956-nay (trong đó từ 1960-1976 ở miền Nam Việt Nam còn có Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam). Với Bác, đại đoàn kết là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, để đoàn kết được dân tộc thì Đảng phải có đường lối đúng, phải thật sự trong sạch, phải không ngừng chỉnh đốn Đảng.

Là một người hoạt động thực tiễn, có mặt nhiều nước trên thế giới, Hồ Chí Minh hiểu rõ tính hai mặt của quyền lực chính trị. Nếu Đảng tốt thì sẽ lãnh đạo đất nước phát triển. Nếu Đảng yếu kém thì gây hậu quả xấu cho xã hội. Trong điều kiện một đảng cầm quyền duy nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy nguy cơ của sự lạm dụng quyền lực và tư lợi nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên không thấm nhuần đạo đức cách mạng, không còn là “người đầy tớ của nhân dân”. Trong Di chúc, Bác dặn: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau.

...Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[2].

Trong phần viết thêm cho bản Di chúc năm 1968, Người đã nhắc nhở: “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân”[3]. Làm được điều đó, Đảng mới thật sự trở thành một Đảng chân chính.

Khi còn lãnh đạo dân tộc đấu tranh chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng đề cao nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác nêu 12 điều về “Tư cách của một Đảng chân chính”. Điều đầu tiên, Người chỉ rõ: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng (...) “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc thì Đảng không có lợi ích gì khác”[4].  

Mục tiêu, lý tưởng của Đảng là đặt lợi ích chung của Tổ quốc, của dân tộc lên trên hết. Với một đường lối đúng đắn đó, Đảng đã lãnh đạo dân tộc làm nên những thắng lợi lịch sử to lớn: thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; thắng lợi oanh liệt của hai cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới; thắng lợi bước đầu của sự nghiệp đổi mới đất nước. Những thắng lợi này bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự đoàn kết chặt chẽ trong toàn Đảng, toàn dân. Chính vì vậy, cần phải giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Muốn vậy, mỗi đảng viên phải hết lòng tôn trọng tập thể, không được đặt mình cao hơn tổ chức, tự cho phép mình đứng ngoài kỷ luật. Đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. 

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Người phê phán những sai lầm, khuyết điểm của một số cán bộ, đảng viên có hại cho sự nghiệp kháng chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra một cách biện chứng về sự đan xen giữa cái tốt và cái xấu trong Đảng. Người nói: “Đảng không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra cho nên bên cạnh những đảng viên tốt, hết lòng vì Đảng, vì dân thì vẫn còn những phần tử tự tư, tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa… thậm chí, có người còn coi việc vào Đảng để thực hiện mục đích vụ lợi. Chính vì vậy, Đảng phải thường xuyên giáo dục đảng viên và cán bộ, kiên quyết cảm hóa và sửa chữa những thói hư tật xấu”, “phải cố sửa chữa cho tiệt nọc các chứng bệnh, khiến cho Đảng càng mạnh khỏe, bình an”[5]. Cách chữa những khuyết điểm, sai lầm ấy là bài thuốc “Tự phê bình và phê bình” là kỷ luật chặt chẽ, tự giác nghiêm minh. Người chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa những khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”[6].

Trong bài phát biểu tại Hội nghị sơ kết cuộc vận động xây dựng chi bộ, đảng bộ “bốn” tốt ở Hà Nội năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Muốn xây dựng Đảng tốt thì phải có đảng bộ tốt, chi bộ tốt. Muốn có Đảng bộ tốt, chi bộ tốt phải có đảng viên tốt. Mỗi đảng viên phải luôn luôn ghi nhớ mười nhiệm vụ. Trong đó, Bác nêu bật các nhiệm vụ quan trọng sau: “Phải kiên quyết và suốt đời đấu tranh cho đảng. Luôn luôn bồi dưỡng tư tưởng vô sản cho mình. Không để mắc sai lầm. Tích cực sửa chữa sai lầm, khuyết điểm. Luôn luôn để lợi ích của Đảng lên trên lợi ích cá nhân. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết, kỷ luật của đảng. Mật thiết liên lạc với quần chúng. Cố gắng học tập để không ngừng nâng cao trình độ của mình, thật thà tự phê bình và phê bình”[7].

“Tự phê bình và phê bình” là một nguyên tắc cao trong xây dựng Đảng được Bác rất quan tâm và nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Trong bản Di chúc, Bác nhắc nhở: Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là “vũ khí rất cần thiết và rất sắc bén” để giúp nhau tiến bộ. Khi phê bình cần phải phê bình cả ưu điểm và khuyết điểm một cách chân thành, có lý, có tình, vì sự tiến bộ, trên cơ sở của tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Phê bình là cốt để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, cho nên thái độ của người phê bình phải thành khẩn, nghiêm trang, đúng mực”, “Tuyệt đối không nên có ý mỉa mai, bới móc, báo thù. Không nên phê bình lấy lệ, càng không nên “trước mặt không nói, xoi mói sau lưng”[8]. Ở đây, Bác yêu cầu người phê bình phải chỉ rõ nguyên nhân của những khuyết điểm đó và tìm ra phương cách để sửa chữa nó, vì “thuốc phải nhằm đúng bệnh”.

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ “tự phê bình và phê bình” phải gắn với thực hành dân chủ rộng rãi. Nhưng thực hành dân chủ rộng rãi phải gắn với kỷ luật, kỷ cương, không thể chấp nhận kiểu dân chủ vô chính phủ, dân chủ thích nói gì thì nói, nói không có tổ chức, không có nguyên tắc.

Tự phê bình và phê bình phải vì sự tiến bộ, phải có tình đồng chí, thương yêu lẫn nhau. Nếu không xuất phát từ tình đồng chí thương yêu lẫn nhau thì mọi cuộc phê bình và tự phê bình sẽ không đem lại kết quả tốt, có khi còn tạo nên “đấu đá” trong Đảng và điều ấy chỉ dẫn tới suy yếu sức mạnh của Đảng. Vì vậy, đòi hỏi người cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Khi viết tác phẩm Đường cách mệnh, Bác đã nêu vấn đề hàng đầu là “Tư cách một người cách mệnh”. Trong đó phải “cần kiệm”, “vị công vong tư”, “ít lòng ham muốn vật chất”. Đạo đức cách mạng là gốc của cây, nguồn của sông. Theo Bác, sông có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng. Đạo đức trở thành nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành bại của mọi công việc: “mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát những chuẩn mực cơ bản về đạo đức của người cách mạng tập trung ở 4 ý sau: Thứ nhất, trung với nước, hiếu với dân, tức là trung thành với sự nghiệp dụng nước, giữ nước và xây dựng đất nước của nhân dân. Đất nước là do nhân dân làm chủ. Vì vậy, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Người cán bộ, đảng viên phải thương dân, gần dân, gắn bó với dân, lấy dân làm gốc. Có như vậy, Đảng mới thật sự xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Thứ hai, phải thương yêu con người. Trong phần bổ sung cho Di chúc, Bác viết: “Đầu tiên là công việc đối với con người”. Thứ ba, phải cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Cần là lao động cần cù, siêng năng. Kiệm là tiết kiệm sức lao động, thì giờ, tiền của nước, của dân, của bản thân. Liêm là “luôn tôn trọng của công, của dân”, “không tham địa vị, không tham tiền tài”. Chính “nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn” đối với mình, đối với người và đối với công việc”. Chí công vô tư, theo Bác là “khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư có mối quan hệ biện chứng với nhau. Thực hiện cần kiệm liêm chính tốt sẽ dẫn tới chí công vô tư. Một lòng vì dân, vì nước nhất định sẽ thực hiện được cần kiệm liêm chính. Thứ tư, phải có tinh thần quốc tế chân chính. Đây là một phẩm chất đạo đức mới của giai cấp công nhân trong việc xây dựng mối quan hệ đoàn kết dân tộc, quốc tế, “bốn phương vô sản đều là anh em”.

Thực hiện những căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị ra chỉ thị số 06-CT/TW, ngày 07-11-2006 và Hướng dẫn số 11-HD/TTVH, ngày 06-12-2006 của Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương về tổ chức cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Cuộc vận động bắt đầu từ ngày 03-02-2007, nhân kỷ niệm 77 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và tổng kết vào ngày 03-02-2011. 

Nội dung cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tập trung ở các phẩm chất  “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, tham nhũng, lãng phí... Mục địch của cuộc vận động là ngăn ngừa sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước.

Quán triệt chủ trương của Bộ chính trị, Đảng bộ Thừa Thiên Huế triển khai thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế đã ban hành Hướng dẫn 01- HD/TU về 5 chuẩn mực đạo đức theo tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh: 

“1. Đối với quê hương, đất nước, chế độ xã hội chủ nghĩa: Phát huy truyền thống yêu quê hương, đất nước, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; ra sức phấn đấu xây dựng Thừa Thiên Huế giàu về kinh tế, đẹp về văn hóa, vững về chính trị, mạnh về quốc phòng, an ninh.

2. Đối với nhân dân: Phải gần dân, hiểu dân, học dân, tôn trọng nhân dân, có trách nhiệm với dân, vì nhân dân phục vụ; chống quan liêu, mệnh lệnh, nhũng nhiễu với nhân dân.

3. Đối với đồng chí, đồng nghiệp: Phải thân ái, đoàn kết, tương trợ, hợp tác giúp nhau cùng tiến bộ; chống chủ nghĩa cá nhân, cục bộ địa phương, hẹp hòi, vị kỷ.

4. Đối với công việc: Phải tận tụy, trách nhiệm, chất lượng, hiệu quả, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

5. Đối với bản thân: Phải gương mẫu chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; không ngừng học tập, ra sức thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nói đi đôi với làm, kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, xây dựng gia đình văn hóa mới”[9].

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” diễn ra trong toàn tỉnh, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng như “Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Hội thi Bí thư Chi bộ giỏi”. Các phương tiện thông tin, truyền hình tiến hành đăng tin, bài, ảnh phóng sự về tư tưởng, đạo đức cách mạng của Bác. Cuộc vận động thật sự trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, có sức lan toả, khơi dậy những tình cảm tốt đẹp, tạo chuyển biến tích cực về ý thức tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, góp phần đẩy lùi sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội.

Sơ kết hai năm triển khai cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", Tỉnh uỷ Thừa Thiên Huế đã tiến hành khen thưởng 15 tập thể và 14 cá nhân[10]điển hình tiên tiến có nhiều thành tích nổi bật trong việc tích cực hưởng ứng thực hiện tốt cuộc vận động này.

Hiện nay, cuộc vận động đã bước sang giai đoạn hai, giai đoạn biến nhận thức niềm tin thành hành động. Để cuộc vận động đạt hiệu quả cao, Tỉnh uỷ chỉ đạo các ban ngành, mặt trận, đoàn thể tiến hành sơ kết hai năm thực hiện. Từ đó tiếp tục tổ chức học tập các chuyên đề “Về sự cần thiết phải học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay”, đi sâu nghiên cứu các tác phẩm: “Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, “Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” “Sửa đổi lối làm việc”.


 


[1] Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr. 36.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 497-498, 510.

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 501.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 5, tr. 249-250, 263, 261

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 5, tr. 249-250, 263, 261

[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 5, tr. 249-250, 263, 261

[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 11, tr. 618.

[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 6, tr. 242.

 [9] Theo Báo Điện tử - Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

[10] Báo cáo 6 tháng đầu năm 2009, số 193-BC/TU, ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, Phòng lưu trữ - Văn phòng Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.



(Theo Nhà xuất bản Đại học Huế, 9/2009)



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


  Những bản tin khác:




 Học tập và làm theo lời Bác 

 Tìm kiếm 
Tìm trên trang Bác Hồ với Huế
Tìm bằng Google
 Tìm hiểu về Đảng - Chính phủ 

 Tìm hiểu về Bác Hồ 
 Lời dạy của Bác 
Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ:

Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.
Hồ Chí Minh.
 Huế xưa và nay 






 CA KHÚC VỀ BÁC HỒ 

 THƯ VIỆN VIDEO 

 Liên kết website 
 Thông tin liên hệ 
 Số lượt truy cập 
   Tổng lượt truy cập 673686
    Hiện tại có 6 khách
Trang chủ    ¤   Ý kiến của bạn    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Tải Files