Tin mới:   
Nghiên cứu 16.08.2018 15:52
Thấm nhuần lời dạy của Bác trong Di chúc, Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ hội nhập
20.04.2013 02:44

CN Vũ Thành Huy - Khoa KTCT, ĐHKT Huế

 

Trong toàn bộ di sản văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một trong những nội dung đặc sắc, nhất quán và quan trọng nhất. Ngay từ khi lựa chọn con đường cách mạng vô sản, ở Hồ Chí Minh đã có sự gắn bó thống nhất giữa dân tộc và giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế. Người đã khẳng định: “Cách mệnh An Nam cũng là bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả[1]. Và khi cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tranh thủ đến mức cao nhất sự ủng hộ giúp đỡ của quốc tế nhằm đưa đất nước Việt Nam thoát nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên sánh vai cùng các cường quốc năm châu. Tháng 12 năm 1946, Người đã gửi Đại Anh Quốc, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên Xô và các nước thành viên khác của Liên hợp quốc, văn kiện “Lời kêu gọi Liên hợp quốc” viết bằng tiếng Pháp, trong đó có những nội dung sau: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực: Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình. Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế. Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc. Nước Việt Nam sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quân trong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân”[2]. Đến những năm tháng cuối đời, trong bản Di chúc của mình, khi nói về phong trào Cộng sản thế giới, Người đã gửi đến đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi rằng: “Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình. Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại”[3].

Tư tưởng đó của Người vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản, vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi ra đời, đã lấy chủ nghĩa Mác–Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động. Kể từ Đại hội VII đến nay, Đảng ta khẳng định “chủ nghĩa Mác–Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng của tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động” của cách mạng Việt Nam. Trên nền tảng đó, bài học về kết hợp các vấn đề dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước truyền thống với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng, đã soi sáng và dẫn đường cho cách mạng Việt Nam trong suốt 79 năm qua.

Trước khi từ biệt thế giới này, Người căn dặn: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

                                                Còn non, còn nước, còn người,

                        Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ Quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”[4]. 

Ý chí về độc lập của dân tộc ấy của Người gắn liền với nguyện ước của Bác về CNXH ở Việt Nam thông qua chính những căn dặn về thanh niên, về lực lượng vũ trang, về đoàn kết quốc tế. Ở đó Người khẳng định vai trò to lớn của thanh niên và chỉ rõ sự thắng lợi của CNXH ở Việt Nam tùy thuộc phần lớn vào các thế hệ thanh niên được đào tạo thành công thành con người mới XHCN. Đồng thời sự thắng lợi của CNXH ở Việt Nam rất cần đến sự giúp đỡ và ủng hộ của các nước XHCN và nhân loại tiến bộ[5].

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã quyết tâm thực hiện điều mong muốn cuối cùng trước khi qua đời mà Người đã nêu trong bản Di chúc: "Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới"[6].

Đến nay, công cuộc đổi mới đất nước đạt nhiều thành tựu to lớn, nền kinh tế tiếp tục phát triển với nhịp độ cao so với các nước khác trong khu vực, tình hình chính trị của đất nước luôn giữ được ổn định, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện, vị thế của đất nước không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế…

Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập mạnh mẽ hiện nay, tình hình trong và ngoài nước đang có sự biến đổi nhanh chóng và phức tạp đã tạo ra cả những cơ hội và thách thức cho cách mạng nước ta.

Tình hình thế giới đang có những thay đổi lớn: chủ nghĩa xã hội không còn là hệ thống như trước; phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào thoái trào và gặp nhiều khó khăn; các vấn đề toàn cầu đang trở thành những thách thức lớn đe dọa nhân loại; chủ nghĩa tư bản không ngừng có sự điều chỉnh để tồn tại và phát triển; chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang nuôi âm mưu “diễn biến hòa bình” và bạo loạn lật đổ; hoạt động khủng bố và ly khai diễn ra mạnh; các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau vừa hợp tác vừa đấu tranh; xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa diễn ra mạnh mẽ; cuộc khủng hoảng kinh tế đang hủy hoại nền kinh tế toàn cầu… Ở trong nước, tình trạng nhiều vấn đề xã hội bức xúc và gay gắt chưa được giải quyết triệt để như: nạn thiếu việc làm, sự gia tăng của tệ nạn xã hội, sự du nhập văn hóa không lành mạnh, đời sống của bộ phận lớn nhân dân còn khó khăn, tệ quan liêu tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức vẫn còn tồn tại và diễn biến phức tạp... Trong hoàn cảnh đó, nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế xuất hiện và đe dọa thành quả cách mạng Việt Nam. Hiện nay, vấn đề làm thế nào để việc vừa chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, vừa giữ vững định hướng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Đại hội VI (tháng 12/1986) của Đảng đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng của cách mạng Việt Nam. Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước và chủ động đưa đất nước hội nhập cùng thế giới. Tuy nhiên, dù hội nhập ở mức độ nào, dù thiết lập mối quan hệ với đối tác nào và ở giai đoạn lịch sử nào, Đảng ta vẫn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu được Đảng ta xác định là: giữ vững độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh quốc gia, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí độc lập tự cường, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Điều đó thể hiện rõ trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội X của Đảng. Tại Đại hội X, Đảng ta đã rút ra 5 bài học lớn, trong đó bài học thứ nhất là: "trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Với tư duy đó, Đảng Cộng sản Việt Nam mở rộng quan hệ với các chính đảng ở các nước khác nhau trên thế giới trên cơ sở các nguyên tắc: độc lập tự chủ; bình đẳng; tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp công việc nội bộ của nhau; cùng nhau thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội. Đảng cũng xác định rõ: hội nhập trên cơ sở dựa vào nội lực là chính, hội nhập quốc tế song không tự đánh mất mình, cảnh giác chống mọi âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.

Như vậy, ta có thể thấy Đảng ta đã xác định một mối quan hệ biện chứng: hội nhập để phát triển và phát triển để hội nhập mạnh mẽ và vững chắc hơn. Đại hội X đã nêu: “Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…[7]. Nói cách khác, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là nhằm tạo đà cho việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội và tạo điều kiện thuận lợi hơn trong công tác bảo vệ và giữ vững nền độc lập dân tộc. Ngược lại, khi giữ vững được độc lập, tự chủ; nội lực được phát huy mạnh mẽ, nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật được xây dựng thành công thì quá trình hội nhập của chúng ta mới vững chắc và hiệu quả hơn.

Mối quan hệ giữa độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và hội nhập còn được thể hiện rõ trong sáu đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được nêu trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (tháng 6/1991) của Đảng: 

- Chủ nghĩa xã hội ở nước ta là xã hội do nhân dân lao động làm chủ;

- Xã hội có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu;

- Xã hội có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân;

- Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ;

- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.

Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh Đảng ta luôn nhất quán việc chủ động hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế và giữ vững định hướng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong cả tư duy và hành động.

Tại Đại hội VI, Đảng đã nêu chủ trương về quan hệ đối ngoại: “Là một đội ngũ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Đảng ta tích cực góp phần vào việc tăng cường đoàn kết của phong trào trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, tăng cường sự hợp tác giữa các đảng anh em trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”[8].Và trong thực tế, ta có thể thấy rằng trước đây Đảng ta chủ yếu có quan hệ với các đảng cộng sản và công nhân, các chính đảng cánh tả, cách mạng và tiến bộ.

Đến nay, Đảng ta xác định chủ động mở rộng quan hệ với mọi quốc gia, và mọi vùng lãnh thổ trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị - xã hội hay ý thức hệ. Tại Đại hội VII (tháng 6/1991), Đảng ta chủ trương: “Đảng Cộng sản Việt Nam tăng cường quan hệ với các đảng cộng sản và công nhân, góp phần tích cực vào sự đoàn kết và hợp tác giữa các đảng anh em trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, đấu tranh vì những mục tiêu cao cả của thời đại. Đoàn kết với các lực lượng đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, sẵn sàng thiết lập và mở rộng quan hệ với các đảng xã hội - dân chủ, các phong trào dân chủ và tiến bộ trên thế giới”[9].

Tại Đại hội IX (tháng 4/2001), chủ trương nhất quán về mở rộng quan hệ đối ngoại của Đảng ta được khẳng định: củng cố và tăng cường quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các phong trào độc lập dân tộc, cách mạng và tiến bộ trên thế giới…

Đại hội X (tháng 4/2006) tiếp tục chủ trương: “Củng cố và tăng cường quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các phong trào độc lập dân tộc, cách mạng và tiến bộ trên thế giới. Tiếp tục mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền”[10].

Và thực tế là Đảng ta cũng chủ động mở rộng quan hệ với các đảng xã hội - dân chủ, các đảng cầm quyền và các đảng khác... Cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam thiết lập mối quan hệ với 222 chính đảng và phong trào ở 115 nước trên thế giới; trong đó có: 93 đảng cộng sản và công nhân; 83 đảng cánh tả, phong trào độc lập dân tộc, cách mạng, tiến bộ; 40 đảng cầm quyền; 43 đảng tham chính hoặc tham gia liên minh cầm quyền [11].

Đảng ta đã xác định đổi mới và hội nhập không phải từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho chủ nghĩa xã hội được nhận thức đúng đắn hơn, và được xây dựng có hiệu quả hơn, mang tính hiện thực hơn. Do nhận thức đúng và thực hiện tốt mối quan hệ này nên cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Điều đó một lần nữa chứng minh việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là luôn đúng đắn, hợp xu thế thời đại và không làm chệch hướng mục tiêu chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, điều dó một lần nữa khẳng định việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế và kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội xét về lôgíc là một tất yếu khách quan, xét về lịch sử là hoàn toàn phù hợp với sự vận động của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại, xét về nhu cầu là hoàn toàn xuất phát từ điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, nửa phong kiến và nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam và xét về mặt xã hội, đó là một hệ giá trị cơ bản nhất quyết định sự phát triển của đất nước Việt Nam.



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.2, tr.301.

[2] Hồ Chí Minh Toàn tập,  NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4 – tr.470.

[3] Về một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, NXB Lao động, Hà Nội, 2003, tr.321.

[4] Hồ Chí Mnh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 498-499.

[5] Xem Hồ Chí Mnh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 498, 500, 504.

[6] Hồ Chí Mnh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 500.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.38-39.

[8] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.102.

[9] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.89.

[10] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.113.

[11] Mở rộng quan hệ đối ngoại của Đảng trong tình hình mới - TS. Trần Văn Hằng - Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương.



(Theo Nhà xuất bản Đại học Huế, 9/2009)



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


  Những bản tin khác:




 Học tập và làm theo lời Bác 

 Tiêu điểm 
 Tìm kiếm 
Tìm trên trang Bác Hồ với Huế
Tìm bằng Google
 Tìm hiểu về Đảng - Chính phủ 

 Tìm hiểu về Bác Hồ 
 Lời dạy của Bác 
Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ:

Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.
Hồ Chí Minh.
 Huế xưa và nay 






 CA KHÚC VỀ BÁC HỒ 

 THƯ VIỆN VIDEO 

 Liên kết website 
 Thông tin liên hệ 
 Số lượt truy cập 
   Tổng lượt truy cập 707116
    Hiện tại có 2 khách
Trang chủ    ¤   Ý kiến của bạn    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Tải Files