Tin mới:   
Nghiên cứu 20.10.2018 19:13
Đọc Di chúc của Bác, nghĩ về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo quan điểm của Hồ Chí Minh
20.04.2013 02:36

ThS Trần Thị Thơm - Khoa LLCT, ĐHKH Huế


   Trong các bản “Di chúc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố, có ba lần trực tiếp và một lần gián tiếp Bác nhắc đến mục tiêu CNXH ở Việt Nam.

Trong bản “Di chúc” ngày 15 tháng 5 năm 1965, đopạn viết về thanh niên, Người dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết”[1].

Trong bản “Di chúc” bổ sung tháng 5 năm 1968, đoạn nói về những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang, Bác căn dặn Đảng và Chính phủ ta cần lựa chọn một số ưu tú nhất trong họ đào tạo thành “là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”[2].

Lần thứ ba, Bác nhắc trực tiếp đến từ xã hội chủ nghĩa là trong bản “Di chúc” viết bổ sung ngày 10 tháng 5 năm 1969. Ở đó Bác đã khẳng định vai trò to lớn của đoàn kết Quốc tế đối với cách mạng Việt Nam: “Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta”[3].

Đoạn cuối của bản “Di chúc” Bác viết năm 1965, chính là khát vọng chủ nghĩa xã hội của Bác đúng với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước VIệt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[4].

Kỷ niệm 40 năm thi đua thực hiện Di chúc của Bác, thiết nghĩ việc tìm hiểu và nắm vững quan điểm của Hồ Chí Minh về con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam là việc làm rất có ý nghĩa không chỉ về lý luận mà còn cả về thực tiễn.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam diễn ra liên tục và mạnh mẽ nhưng tất cả đều thất bại. Con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và tư sản không có khả năng giành được thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trước thực tế đó, Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước, để giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ.

Trong lộ trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã khảo nghiệm nhiều cuộc cách mạng điển hình trên thế giới và đi đến sự lựa chọn con đường cứu nước theo cách đường cách mạng vô sản. Người kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Đó chính là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội theo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Thực tiễn thành công của cách mạng tháng Tám và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã chứng minh đó là con đường cứu nước đúng đắn nhất. Vì vậy, năm 1960, khi viết bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Mác-Lênin”, Người nói: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”[5]. Và khi trả lời phỏng vấn của Sáclơ Phuốcniô, phóng viên báo L’Humanites, Người tiếp tục khẳng định: “... chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới”[6]. 

Sự lựa chọn của Nguyễn Ái Quốc đã đáp ứng khát khao của dân tộc ta, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Thống nhất giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là nội dung cốt lõi trong tư tưởng của Hồ Chí Minh:

Khi xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ trong Chính cương vắn tắt là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[7]. Từ đây, cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của phong trào cách mạng vô sản thế giới, trong xu thế vận động đi lên chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện đường lối này, Đảng và Bác Hồ không ngừng xây dựng lực lượng, chuẩn bị mặt cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Đầu năm 1941, sau hơn 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc về nước và tổ chức Hội nghị Trung ương lần thứ VIII (5-1941). Tại hội nghị này, Người khẳng định: Cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng. Nhưng làm cách mạng giải phóng dân tộc rồi không phải ngừng lại mà phải tiến lên làm tròn nhiệm vụ tư sản dân quyền và chinh phục chính quyền vô sản. Trong báo cáo chính trị đọc tại Đại hội lần thứ II (1951), Nguyễn Ái Quốc tiếp tục khẳng định: Đảng lao động Việt Nam đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Sau thắng lợi ở Điện Biên Phủ năm 1954, theo Hiệp định Giơnevơ, đất nước bị chia cắt hai miền. Vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, Đảng quyết định đưa miền Bắc quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn và cần thiết, bởi vì, đi theo con đường này, nhân dân ta mới được giải phóng khỏi áp bức và bóc lột, mới bảo vệ được độc lập, tự do cho dân tộc. Mặt khác, trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt hai miền, thì miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội sẽ trở thành hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rõ quy luật chung và đặc điểm cụ thể của mỗi nước khi bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người chỉ rõ: “Tuỳ hoàn cảnh, mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau (...). Có nước thì đi thẳng đến chủ nghĩa xã hội (...). Có nước thì phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên chủ nghĩa xã hội”[8]. Tiếp thu quan điểm của Lênin về hai hình thức quá độ gián tiếp  lên CNXH: Quá độ từ nước tư bản phát triển trung bình lên CNXH và quá độ từ nước tiền tư bản hoặc nghèo nàn lạc hậu, qua dân chủ chủ nhân dân đi thẳng lên chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường phát triển rút ngắn đưa miền Bắc tiến thẳng “lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”[9]. Mục đích của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là làm cho mọi người dân được ấm no, hạnh phúc. Đây là một cuộc cách mạng hoàn toàn mới, xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Cho nên, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội không thể làm nhanh được mà phải làm dần dần, khó khăn, phức tạp và lâu dài. Xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo Hồ Chí Minh cần tập trung vào các nội dung sau:

Trước tiên, xây dựng chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa. Đó là chế độ do Đảng Cộng sản lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ. Trong chế độ chính trị đó, Đảng đóng vai trò rất quan trọng. Điều kiện để xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công phải có “sự lãnh đạo của một Đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công”[10]. Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng cần phải mạnh hơn bao giờ hết. Trong Đảng “đòi hỏi đảng viên và cán bộ phải có lập trường giai cấp vô sản thật vững chắc, giác ngộ về chủ nghĩa xã hội cao (...), phải rửa sạch ảnh hưởng của tư tưởng của giai cấp bóc lột, rửa sạch chủ nghĩa cá nhân, rèn luyện chủ nghĩa tập thể (...), khắc phục các bệnh quan liêu và cô độc hẹp hòi để liên hệ chặt chẽ với quần chúng”[11]. Muốn làm được việc này thì phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, trước hết là cán bộ chủ chốt.

Vũ khí sắc bén để làm cho đảng viên tiến bộ, làm cho Đảng ngày càng vững mạnh là tự phê bình và phê bình. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa những khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”[12]. Tự phê bình và phê bình là liều thuốc để Đảng trong sạch, vững mạnh, làm tròn nhiệm vụ lịch sử giao phó: lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm nền tảng vững chắc để thực hiện thống nhất nước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Cùng với Đảng, Nhà nước có vai trò là “làm lợi cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, ngày càng tiến bộ về vật chất và tinh thần, làm cho trong xã hội không có người bóc lột người”. Nhà nước phải làm tròn hai chức năng quan trọng: dân chủ với nhân dân và chuyên chính với kẻ thù. Các cơ quan Nhà nước phải dựa vào dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự kiểm soát của nhân dân. Bộ máy Nhà nước phải thật sự là “của dân, do dân và vì dân”. Các tổ chức chính trị khác như: công an, quân đội, đoàn thanh niên, phụ nữ, Mặt trận dân tộc thống nhất... đều có vai trò rất quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.  Tất cả đều tập hợp thành một khối thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì toàn dân cần đoàn kết lâu dài, đoàn kết thật sự và cùng tiến bộ”[13]. Theo người, đoàn kết thật sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng phải nhất trí. Đoàn kết thật sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân. Sau này, trong Di chúc, một lần nữa Bác đã nhấn mạnh tầm quan trọng của tư tưởng đoàn kết: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”[14]. Chủ trương đoàn kết toàn dân là quan điểm quan trọng của Hồ Chí Minh nhằm tập hợp lực lượng cách mạng trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Trong Mặt trận đó phải không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, phải phát huy sức mạnh của nông dân và phải tạo điều kiện để những người trí thức cách mạng góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng nước nhà. Sức mạnh đoàn kết dân tộc đặt đưới sự lãnh đạo của một đảng chân chính là nhân tố đưa đến sự thành công của cách mạng mạng xã hội chủ nghĩa. Trong mối quan hệ quốc tế, Hồ Chí Minh nhấn mạnh sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân yêu chuộng hoà bình có vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà và xây dựng dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta. Người viết: “Sự đoàn kết chặt chẽ giữa nhân dân ta và 900 triệu nhân dân các nước anh em là lực lượng vô cùng to lớn. Với sức mạnh ấy, với sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các nước yêu chuộng hoà bình trên thế giới, chúng ta nhất định khắc phục được mọi khó khăn, nhất định hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của chúng ta là thống nhất nước nhà và tiến dần lên chủ nghĩa xã hội”[15].

Thứ hai, xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa chỉ được bảo đảm và vững chắc trên cơ sở một “nền kinh tế vững mạnh”. Do đó, giữa kinh tế và chính trị có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Lênin khẳng định: chủ nghĩa cộng sản bằng chính quyền Xô Viết cộng điện khí hóa toàn quốc. Xuất phát từ hoàn cảnh và đặc điểm cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh xác định cần phải xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Trong đó, “Nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”[16]. Muốn làm được việc này, trước hết “phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm (...) phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ, xóa bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới không có bóc lột áp bức”[17]. Đó chính là hai mặt: cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Hai mặt này có quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng và thúc đẩy lẫn nhau, trong đó xây dựng là nhiệm vụ quan trọng nhất.

Xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa là từng bước công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế cân đối và hiện đại, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp, lấy công nghiệp làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu, từ một nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Để xây dựng nền kinh tế lớn xã hội chủ nghĩa, yêu cầu hàng đầu là phải đẩy mạnh sản xuất. Người chỉ rõ: “Muốn có chủ nghĩa xã hội thì không có cách nào khác là phải dốc lực lượng của mọi người ra để sản xuất, sản xuất là mặt trận chính của chúng ta hiện nay”[18].

Trong qúa trình sản xuất, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến tính toàn diện của tất cả các ngành kinh tế. Trong đó, trọng tâm là ngành công nghiệp và nông nghiệp. Người xem “công nghiệp và nông nghiệp như hai cái chân của nền kinh tế nước nhà. Chân phải thật vững, thật khoẻ, thì kinh tế mới tiến bộ thuận lợi và nhanh chóng”[19]. Khi xác định công nghiệp và nông nghiệp là hai ngành kinh tế chính, Hồ Chí Minh chỉ rõ mối quan hệ chặt chẽ của chúng. “Ngành nông nghiệp có nhiệm vụ cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp và trái lại, ngành công nghiệp sẽ giúp cho ngành nông nghiệp phát triển. Nếu ngành công nghiệp phát triển mà ngành nông nghiệp không phát triển thì khập khễnh như người đi một chân”[20]. Đi đôi với phát triển công nghiệp và nông nghiệp, Hồ Chí Minh rất chú ý tới xây dựng ngành thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, làm cho thương nghiệp nước ta thực sự trở thành một đòn bẫy kinh tế, làm tốt vai trò giao lưu kinh tế giữa công nghiệp và nông nghiệp, sản xuất và tiêu dùng, giữa địa phương với trung ương, trong nước và ngoài nước. Bên cạnh chủ trương đẩy mạnh sản xuất, Hồ Chí Minh còn kêu gọi nhân dân phát huy tinh thần tiết kiệm, vì “sản xuất mà không biết tiết kiệm thì chẳng khác nào gió vào nhà trống”.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là thể hiện trên tất cả các lĩnh vực, từ đẩy mạnh xản xuất, thực hành tiết kiệm, đến thực hiện chế độ khoán... Trong qúa trình sản xuất, Người huy động tinh thần và sức lực của toàn thể dân tộc, với các phong trào “thi đua yêu nước”, “tất cả phục vụ sản xuất”... nhằm xây dựng miền Bắc ngày càng vững mạnh, làm nền tảng vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. 

Thứ ba, xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Văn hóa giáo dục được xem là một mặt trận quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Trong các bài viết về xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; những bài nói chuyện của Người tại Đại hội Văn nghệ Toàn quốc lần thứ ba; Hội nghị tổng kết phong trào thi đua dạy tốt, học tốt của ngành giáo dục... đều thể hiện quan điểm, tư tưởng của Người về cách mạng tư tưởng - văn hóa.

Mục tiêu của cách mạng văn hóa và kỹ thuật là làm cho nhân dân lao động có trình độ vững vàng, nắm được những hiểu biết cần thiết về khoa học kỹ thuật và vận dụng những hiểu biết đó vào công cuộc cải biến xã hội cũ, xây dựng một nền văn hóa, khoa học và kỹ thuật hiện đại. Muốn hoàn thành mục tiêu này, theo Hồ Chí Minh, cần xoá bỏ những tàn dư, tư tưởng và hủ tục của xã hội cũ, xây dựng nền văn hóa mới với nội dung xã hội chủ nghĩa, trong đó, yếu tố con người đóng vai trò quan trọng. bởi vì con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển. Người nhấn mạnh: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa và có tư tưởng xã hội chủ nghĩa”[21]. Trong đó, cán bộ, đảng viên là những người đầu tiên và cốt cán nhất có tư tưởng muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng chủ nghĩa xã hội ở mỗi con người thể hiện ở việc kiên trì học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Đồng thời không ngừng trao dồi, rèn luyện đạo đức cách mạng, phấn đấu thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

Những nội dung trên đây đã phác họa một bức tranh khái quát về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Con đường này là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử dân tộc.

Ngày nay, Đảng và nhân dân ta tiếp tục kiên định con đường cách mạng mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ Đại hội Đại biểu Toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII, Đảng ta đã khẳng định “chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở nền tảng của tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của cách mạng Việt Nam”. Đại Hội Đại biểu Toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã khẳng định Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa, trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 498.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 504.

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 506.

[4] Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 500. 

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 10, tr. 128 .

[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 12, tr. 474.

[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 3, tr.1.

[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 7, tr.247.

[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 10, tr.13.

[10] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 12, tr.303.

[11] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 8, tr.494.

[12] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 5, tr. 261. 

[13] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 9, tr. 137.

[14] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 12, tr. 497, 510.

[15] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 8, tr.505.

[16] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 10, tr.13.

[17] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 10, tr.13.

[18] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 10, tr.312.

[19] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 8, tr.84.

[20] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 9, tr.136.

[21] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 10, tr. 159.



(Theo Nhà xuất bản Đại học Huế, 9/2009)



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


  Những bản tin khác:




 Học tập và làm theo lời Bác 

 Tìm kiếm 
Tìm trên trang Bác Hồ với Huế
Tìm bằng Google
 Tìm hiểu về Đảng - Chính phủ 

 Tìm hiểu về Bác Hồ 
 Lời dạy của Bác 
Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ:

Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.
Hồ Chí Minh.
 Huế xưa và nay 






 CA KHÚC VỀ BÁC HỒ 

 THƯ VIỆN VIDEO 

 Liên kết website 
 Thông tin liên hệ 
 Số lượt truy cập 
   Tổng lượt truy cập 737276
    Hiện tại có 1 khách
Trang chủ    ¤   Ý kiến của bạn    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Tải Files