Tin mới:   
Nghiên cứu 16.08.2018 15:52
Phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ đổi mới để nâng cao đời sống cho nhân dân theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
20.04.2013 02:25

ThS.GVC Lê Đình Vui - Khoa KTCT, ĐHKT Huế

  

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam, là người vĩ đại nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam, là người Việt Nam đầu tiên đã tiếp thu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng nước ta. Có thể nói tư tưởng Hồ Chí Minh là Chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam. Vì vậy, cũng như chủ nghĩa Mác-Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống mở. Chúng ta không coi tư tưởng Hồ Chí Minh là “cái gì xong xuôi hẳn và bât khả xâm phạm” mà phải đặt nhiệm vụ tiếp tục nghiên cứu và phát triển hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong bản Di chúc thiêng liêng để lại cho muôn đời sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong...), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần "tự lực cánh sinh"...

Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét.

Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc...

Đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu, v.v., thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện...”[1].

Có thể nói, những căn dặn quý báu trên của Người là những gợi ý định hướng cho nền kinh tế cơ cấu nhiều thành phần ở Việt Nam, mà sinh thời Người đã thực hiện trong xây dựng miền Bác XHCN.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là sự kế thừa trực tiếp quan điểm lý luận của Lênin. Trong lịch sử, Lênin là người đầu tiên đưa ra quan điểm cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Theo Lênin, thời kỳ quá độ nền kinh tế cũng mang tính chất quá độ, nó vừa có những yếu tố kinh tế của các xã hội cũ vừa có những yếu tố kinh tế của xã hội mới. Sau cách mạng Tháng Mười năm 1917, căn cứ vào thực trạng kinh tế nước Nga lúc bấy giờ, Lênin đã nêu lên 5 thành phần kinh tế tồn tại trong thời kỳ quá độ của chủ nghĩa xã hội là:

“1.Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất tự nhiên.

 2.Sản xuất hàng hoá nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mì).

 3.Chủ nghĩa tư bản tư nhân.

 4.Chủ nghĩa tư bản nhà nước.

 5.Chủ nghĩa xã hội”[2].

Tư tưởng của Lênin về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần cho chúng ta thấy rằng, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không chỉ tồn tại các loại hình kinh tế của chủ nghĩa xã hội  và chủ nghĩa tư bản mà còn tồn tại các loại hình kinh tế trước chủ nghĩa tư bản. Ngoài ra, còn tồn tại cả loại hình kinh tế hỗn hợp rất gần gũi với kinh tế chủ nghĩa xã hội là kinh tế chủ nghĩa tư bản nhà nước. Kinh tế chủ nghĩa tư bản nhà nước chính là trạm trung gian, là nấc thang cần thiết để đưa sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.

Tiếp thu lý luận của Lênin và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định: “Miền Bắc nhất định phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Mà đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”[3]. Điểm xuất phát thấp này là nguyên nhân chính quy định tính chất phức tạp của các loại kết cấu kinh tế, xã hội và sự tồn tại cùng một lúc các thực thể kinh tế khác nhau. Như vậy, Hồ Chí Minh đã căn cứ vào thực trạng nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu để chỉ ra các loại hình kinh tế, các hình thức sở hữu khác nhau.

Theo Hồ Chí Minh: “ Trong nước ta có những hình thức sở hữu chính về tư liệu sản xuất như sau:

-Sở hữu nhà nước tức là toàn dân.

-Sở hữu hợp tác xã, tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động.

-Sở hữu của người lao động riêng lẻ.

-Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”[4].

Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh là đã chia kinh tế chủ nghĩa xã hội thành 2 thành phần: thành phần kinh tế nhà nước dựa trên hình thức sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã dựa trên hình thức sở hữu tập thể. Đồng thời Hồ Chí Minh cũng chỉ ra đặc điểm của thành phần kinh tế tư bản tư nhân ở Việt Nam khác với các nước đã trải qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản là tỷ trọng của nó rất bé trong nền kinh tế.

Về trình tự sắp xếp các thành phần kinh tế của Hồ Chí Minh cũng khác với Lênin. Nếu Lênin sắp xếp các thành phần kinh tế dựa trên cơ sở trình tự xuất hiện của chúng trong lịch sử, thì Hồ Chí Minh lại căn cứ vào vai trò của các thành phần kinh tế đối với xã hội mới. Kinh tế nhà nước được xếp vị trí cao nhât, bởi vì kinh tế nhà nhà nước là nền tảng kinh tế của chế độ xã hội mới, chỗ dựa của nhà nước nhân dân; Sở hữu xã hội chủ nghĩa đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Theo Hồ Chí Minh, vai trò chủ đạo của kinh tế xã hội chủ nghĩa thể hiện ở chỗ: nó là hình thức sở hữu chính, tồn tại trong các lĩnh vực kinh tế then chốt, ảnh hưởng đến quốc kế dân sinh, có tác dụng hướng các loại hình kinh tế khác vào cùng một dòng chảy là phát triển kinh tế, góp phần xây dựng xã hội mới.

Khi bàn về sự phát triển của kinh tế hợp tác xã, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những nấc thang mà kinh tế hợp tác xã cần phải trải qua: “Đường lối cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp là đưa nông nghệp làm ăn riêng lẻ đi dần từ tổ đổi công (có mầm mống xã hội chủ nghĩa) tiến lên hợp tác xã cấp thấp (nửa chủ nghĩa xã hội), rồi tiến lên hợp tác xã cấp cao (xã hội chủ nghĩa)”[5].

Như vậy, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ sự phát triển quan hệ sản xuất tập thể trong nông nghiệp phải được tiến hành dần dần từng bước cho phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Ngoài kinh tế xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh còn thừa nhận sự tồn tại khách quan, lâu dài của các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa. Theo Hồ Chí Minh: “đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác, Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện”. Còn “đối với những nhà tư bản công thương, Nhà nước không xoá bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ, mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước. Đồng thời Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo chủ nghĩa xã hội bằng những hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác”[6]. Cùng với sự thừa nhận tồn tại khách quan và lâu dài của các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh còn đề cập đến vai trò, vị trì và quyền lợi của các giai cấp, tầng lớp gắn liền với các thành phần kinh tế đó. Theo Hồ Chí Minh, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là của mọi người: của công nhân, nông dân,tri thức, tiểu thương, tiểu chủ, tư sản dân tộc, trong đó công nhân, nông dân và trí thức là động lực chính. Trong cải tạo đối với tư sản dân tộc, về kinh tế, chúng ta không tịch thu tư liệu sản xuất của họ, mà dùng chính sách chuộc lại; về chính trị, chúng ta vẫn cho họ quyền lợi thích đáng, họ vẫn được giữ vị trí một thành viên trong mặt trận tổ quốc. Quan điểm này xuất phát từ đặc điểm của Việt Nam, trước đây là thuộc địa, giai cấp  tư sản dân tộc vốn nhỏ bé lại bị đế quốc và phong kiến chèn ép, không thể ngóc đầu lên được. Cho nên số đông họ đã đi theo nhân dân lao động để chống đế quốc, phong kiến, đã tham gia kháng chiến. Đó là mặt ưu điểm của họ. Nhưng do bản chất giai cấp của họ, họ vẫn luyến tiếc cách bóc lột và muốn phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Như vậy, Hồ Chí Minh không chỉ đứng trên lợi ích của giai cấp công nhân, nông dân, trí thức, mà còn xuất phát từ lợi ích của các nhà tư bản, tiểu thương, tiểu chủ để xây dựng đường lối cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm thu hút mọi lực lượng yêu nước, tiến bộ, phát huy mọi nguồn lực xã hội để xây dựng đất nước.

Từ năm 1975 đến năm 1985, do những sai lầm chủ quan về nhận thức của Đảng nên tư tưởng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Hồ Chí Minh không được vận dụng. Nghị quyết 24 của Trung ương (9/1975) chủ trương chỉ duy trì nền kinh tế nhiều thành phần ở miền nam trong một thời gian nhất định. Đại hội IV đề ra mục tiêu đến năm 1980 cơ bản hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền nam. Tháng 3/1997, Bộ Chính trị đã quyết định hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản trong hai năm 1977-1978.

Do sớm xoá bỏ các thành phần kinh tế tư bản, cá thể, là một trong những nguyên nhân cản trở phát triển sức sản xuất của xã hội, góp phần đẩy nước ta lâm vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế gay gắt năm 1979 cho tới những năm 1993-1994 mới bước ra khỏi cuộc khủng hoảng đó.

Đại hội VI( 12/1986), đánh dấu trở lại tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Đảng ta. Đại hội đã chủ trương cho phép kinh tế tư bản, kinh tế cá thể được phép hoạt động không chỉ trong lĩnh vực sản xuất mà cả trong lĩnh vực thương nghiệp, dịch vụ trong phạm vi cả nước và thừa nhận nền kinh tế nước ta có 4 thành phần kinh tế là: quốc doanh, tập thể, tư bản tư nhân và cá thể.

Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII(1994), Đảng ta đã đổi tên kinh tế quốc doanh thành kinh tế nhà nước, kinh tế cá thể thành kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tập thể thành kinh tế hợp tác.

Căn cứ vào thực tế phát triển của các tổ chức kinh tế liên doanh, liên kết giữa nhà nước với các nhà tư bản trong và ngoài nước ngày càng tăng, tại Đại hội lần thứ VIII(1996),  Đảng ta đã nêu thêm thành phần kinh tế tư bản nhà nước và xác định nền kinh tế nước ta có năm thành phần: kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác mà nòng cốt là các hợp tác xã, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân.

Cùng với sự mở rộng hợp tác quốc tế ngày càng tăng, những người có quốc tịch nước ngoài đầu tư vào Việt Nam ngày càng nhiều , để có chính sách hợp lý, khuyến khích họ đầu tư và an tâm làm ăn lâu dài tại nước ta, Đại hội toàn quốc lần thứ IX (2001), đã xếp những người nước ngoài hoạt động kinh tế tại Việt Nam thuộc thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và xác định nước ta có sáu thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Mặc dù thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tư bản tư nhân, nhưng trong thực tế Đảng, Nhà nước và nhân dân vẫn mặc cảm với thành phần kinh tế này, thường nhìn thấy mặt tiêu cực của nó hơn là mặt tích cực, chưa thấy hết được vai trò của thành phần kinh tế này trong sự phát triển lực lượng sản xuất của nền kinh tế, cấm đảng viên không được làm kinh tế tư nhân.

Đại hội X (2006), đánh dấu sự thay đổi về chất trong nhận thức của Đảng ta về thành phần kinh tế này, cho phép một bộ phận đảng viên được tham gia làm kinh tế tư nhân. Cùng với sự đổi mới về nhận thức đó, Đảng ta cũng sắp xếp lại các thành phần kinh tế, ghép thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân  thành một thành phần gọi là kinh tế tư nhân và xác định nước ta còn năm thành phần kinh tế.

Tuỳ vào tình hình thực tế, yêu cầu của các nhiệm vụ kinh tế, chính trị và tính khoa học mà Đảng ta xác định số lượng và tên gọi của các thành phần kinh tế trong từng thời kỳ cho thích hợp. Nhưng tư tưởng cơ bản của Đảng ta vẫn là: Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần là một quy luật tất yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chủ trương thực hiện nhất quán chính sách nền kinh tế nhiều thành phần một cách lâu dài, thực hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trước pháp luật, trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần thì kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể đóng vai trò nền tảng của nền kinh tế. Đó chính là sự kế thừa và phát triển quan điểm Hồ Chí Minh về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ đổi mới của Đảng và Nhà nước ta.

Nhờ kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh một cách sáng tạo về việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần trong hơn hai mươi năm đổi mới vừa qua, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều mặt: kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đoàn kết toàn dân tộc được cũng cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được giữ vững.



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 12, trang 503-504.

[2] V.I Lênin toàn tập, NXB Tiến Bộ, Matxcova, 1978, T43, Tr.248.

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1996, T9, Tr.13.

[4] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1996, T9, Tr 588.

[5] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1996, T.10, Tr.15.

[6] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1996, T9, Tr589.



(Theo Nhà xuất bản Đại học Huế, 9/2009)



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


  Những bản tin khác:




 Học tập và làm theo lời Bác 

 Tiêu điểm 
 Tìm kiếm 
Tìm trên trang Bác Hồ với Huế
Tìm bằng Google
 Tìm hiểu về Đảng - Chính phủ 

 Tìm hiểu về Bác Hồ 
 Lời dạy của Bác 
Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ:

Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.
Hồ Chí Minh.
 Huế xưa và nay 






 CA KHÚC VỀ BÁC HỒ 

 THƯ VIỆN VIDEO 

 Liên kết website 
 Thông tin liên hệ 
 Số lượt truy cập 
   Tổng lượt truy cập 707116
    Hiện tại có 2 khách
Trang chủ    ¤   Ý kiến của bạn    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Tải Files