Tin mới:   
Giáo sư, Bác sĩ Hồ Đắc Di gặp Bác Hồ tại Pháp trước năm 1945
25.03.2013 17:22

CẢM NGHĨ VỀ NHỮNG LẦN ĐƯỢC GẶP BÁC HỒ *


 

 


Giáo sư, Bác sĩ Hồ Đắc Di

Sinh năm: 1900 

Quê quán: thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

GS, BS Hồ Đắc Di **

 

    Tôi viết những dòng này trong lúc cả nước đang sục sôi khí thế quyết chiến quyết thắng. Giống như những năm nào Hồ Chủ Tịch còn sống, trên loa phóng thanh lại vang lên tiếng nói đanh thép của Người: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn Độc lập Tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.

Những lời nói sáng ngời chân lý đó đã đi thẳng vào trái tim, khối óc của mọi người, từ lâu đã trở thành lẽ sống của mỗi người Việt Nam. Chân lý “Độc lập cho Tổ quốc, tự do cho nhân dân” đối với mỗi tầng lớp, mỗi lứa tuổi lại bao hàm một ý riêng !

Khi còn trẻ, chọn nghề thầy thuốc, tôi những ước mong tìm thấy ở đó nơi gởi gắm nhiệt tình, nơi mang trí tuệ phục vụ con người. Nhưng cả cái thực tế phũ phàng của một nước nô lệ, những nỗi đắng cay của người trí thức ở nước thuộc địa đã dần dần mở mắt cho tôi thấy: Không thể có tự do thực sự khi nước nhà chưa độc lập. Riêng với người trí thức thì đó là sự tự do tư duy, tự do cống hiến tài năng của mình cho con người, cho đất nước. Điều đó, ngày nay tưởng như rất đơn giản, rất tự nhiên. Nhưng trước cách mạng để hiểu được điều đó phải trải qua nhiều đêm trằn trọc, chịu nhiều đắng cay dằn vật về tâm hồn và lương tâm.

Cái tên thần thoại “Nguyễn Ái Quốc” và hoạt động của Người trên đất Pháp vào những năm sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã làm cho trong tiềm thức của tôi loé lên tia sáng đầu tiên về ý niệm đó. Lúc đó tôi đang theo học khoa Y trường Đại học Paris. Tôi rất khâm phục người mang tên Nguyễn Ái Quốc dám đưa ra toà hội Vecxay Tám điều yêu sách, dám phát hành tờ “Người cùng khổ”. Trong trí óc đầy tưởng tượng, tôi vẽ lên hình ảnh một con người “Hiệp sĩ”.

Nhưng một lần, vào buổi sáng chủ nhật, tôi cùng với một anh bạn, lúc đó là luật sư tập sự, cùng nhau đến trụ sở Hội sinh viên ở phố Nô-mơ-ra, khu La-Tin, Paris để gặp gỡ bạn bè.

Khi đến trụ sở, nhìn vào phòng trong, tôi thấy ba người đang trò chuyện bên chiếc bàn con. Trong ba người đó, tôi nhận ra một người là cụ Phan Chu Trinh, người thứ hai là Luật sư Phan Văn Trường, còn người thứ ba, một thanh niên dáng người dong dỏng cao, trán rộng, mắt sáng, tôi không biết anh. Anh Giáo ghé tai tôi nói nhỏ :

- Cụ Nguyễn Ái Quốc đó!

Thì ra đó chính là người đã làm xôn xao dư luận, làm cho thế giới biết đến tên tuổi Việt Nam, đang ngồi kia, cũng bình dị như mọi người “trần tục”. Sau lần ấy, tôi còn thấy Bác ở trụ sở Hội sinh viên một lần nữa rồi bẵng đi mấy chục năm sau tôi không được gặp lại, nhưng tên tuổi Người luôn vang lên, khi ở nơi này, khi ở nơi khác !

Không khí Hà Nội trong những ngày tiền khởi nghĩa ngột ngạt như trước cơn dông. Những hoạt động rất táo bạo của “Việt Minh” ở Hà Nội làm cho mọi người trong đó có tôi rất khâm phục, tuy lúc ấy, tôi cũng chưa có khái niệm gì rõ rệt về tôn chỉ, mục đích của Việt Minh. Khi biết rõ “Việt Minh” do ông Nguyễn Ái Quốc sáng lập, từ một tờ truyền đơn của người nào đó luồn qua khe cửa và được biết đó là thư kêu gọi Tổng Khởi nghĩa ký tên Nguyễn Ái Quốc thì tôi yên trí: Đó là chính nghĩa, là độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc. Và khi được thấy con người mảnh khảnh năm nào, nay tóc đã điểm bạc, mang chòm râu lơ thơ, cất giọng Nghệ đầm ấm đọc Tuyên ngôn độc lập thì niềm tin của tôi càng vững chắc. Chính niềm tin đó đã quyết định con đường lựa chọn sau này của tôi.

Kháng chiến bùng nổ. Biết bao nhiêu sự lúng túng, bao nhiêu điều bỡ ngỡ. Ra đi kháng chiến, lòng tôi bao mối lo: Lên rừng núi làm gì có điều kiện giảng dạy, làm gì có điều kiện nghiên cứu khoa học. Những năm tháng  đầu tiên thật vất vả! Trường sở chẳng có, phải thuyên chuyển luôn để tránh giặc, dụng cụ, sách vở hầu như không có gì. Trong lúc đang lúng túng, khó khăn, tôi lại có dịp được gặp Hồ Chủ tịch. Phải trèo đèo lội suối mấy ngày đường tôi mới lên tới ATK (An toàn khu). Anh em đưa tôi tới một khu rừng, cây lá um tùm, mấy nếp nhà sàn nấp kín dưới lùm cây. Hồ Chủ tịch đã tiếp tôi ở một trong những ngôi nhà đó. Bác gầy đi nhiều nhưng dáng điệu vẫn ung dung, thanh thản. Bác vẫn bộ đồ nâu, chân đi dép cao su, đôi dép sau này đã trở thành hình ảnh thần thoại !

Tôi đã đem hết những nỗi lo lắng, băn khoăn về công việc của mình trình bày với Bác và đề nghị Chính phủ giúp đỡ.

Bác đã chăm chú nghe tôi rồi ân cần nói, đại ý:

-   Nước nhà đang kháng chiến, gặp nhiều khó khăn. Các chú phải “Tự lực cánh sinh”, bàn bạc với nhau, tự tìm cách giải quyết. Chính phủ cũng sẽ cố gắng giúp đỡ!

Đây là lần đầu tiên tôi nghe thấy câu “Tự lực cánh sinh” mà sau này đã trở nên phương châm hành động của chúng ta. Lời nói giản dị của Hồ Chủ tịch lúc đó thâu tóm vào bốn chữ đã vạch ra cho tôi hướng đi. Thực sự chân lý bao giờ cũng giản dị. Nghe thấy chân lý đó, chúng tôi đã hành động. Không có sách, chúng tôi đã viết ra sách để giảng dạy cho sinh viên. Không có trường sở dạy, chúng tôi đã lập bệnh viện vừa chữa bệnh cho dân địa phương, vừa hướng dẫn sinh viên học tập. Trường sở, nhà ở đều nhờ vào sức dân, thầy trò chung lưng đấu cật, dựng lên những ngôi nhà giữa rừng, vừa làm, vừa dạy. Những khoá bác sĩ đầu tiên đã tốt nghiệp toả ra khắp nẻo đất nước; khắp các chiến trường phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến.

Chính Hồ Chủ tịch là người cha đỡ đầu tinh thần cho Trường Y kháng chiến ...

Năm 1953, cuộc kháng chiến đã giành được những thắng lợi to lớn, toàn dân ta bước vào cuộc cách mạng long trời lở đất: Cách mạng cải cách ruộng đất. Cán bộ từ khắp nơi về ATK dự lớp chỉnh huấn đầu tiên. Không khí chung vô cùng phấn khởi. Tất cả anh chị em dự lớp chỉnh huấn của trí thức ao ước được gặp Hồ Chủ tịch và ước mơ đó đã thành sự thực.

Tất cả mọi người đứng bật dậy, vỗ tay vang dậy khi Bác tiến nhanh vào hội trường. Bác giơ tay ra hiệu cho mọi người ngồi xuống nhưng không ai chịu cả. Bác tươi cười, trông người như trẻ ra cùng với đà thắng lợi của kháng chiến! Rồi Bác ôn tồn nói: Trường kỳ gian khổ, tự lực cánh sinh là trách nhiệm chung của toàn dân, cũng là trách nhiệm riêng của mỗi người cán bộ trí thức, phải “Tiên ưu hậu lạc” ... Phấn đấu trong một thời đại vẻ vang làm cán bộ của một dân tộc anh hùng, đó là vinh dự của người trí thức, đồng thời cũng là nhiệm vụ nặng nề ... Có hai thứ vũ khí sắc bén giúp chúng ta cải tạo tức là cố gắng học tập gắn liền với thực hành và không e ngại, không che giấu.

Những lời nói của Bác làm cho tất cả chúng tôi thấy rõ hơn chỗ đứng, thấy rõ hơn trách nhiệm của mình. Tôi đã nhận thức sâu sắc hơn lời dặn của Bác để cố gắng học tập gắn liền với thực hành.

 Sau khi gặp Bác lần đó, tôi đã chuyển hướng việc giảng dạy, học tập của trường Y. Các anh em sinh viên đã ba lô trên vai về các đơn vị chiến đấu ngay trong chiến hào cùng anh em chiến sĩ. Những cuộc “đi thực tập” đó đã giúp anh em rất nhiều khi về nhà trường học tập... 

Hoà bình lập lại, ngành Y gánh thêm biết bao nhiêu nhiệm vụ mới hết sức nặng nề. Một lần nữa Bác lại đến với chúng tôi, vạch ra phương hướng công tác. Bác dạy Lương y phải như từ mẫu ... Y học cũng phải dựa trên nguyên tắc: khoa học, dân tộc, đại chúng!

Như vậy là trong cuộc đời của tôi đã có nhiều dịp được gặp Hồ Chủ tịch. Mỗi lần gặp diễn ra trong một hoàn cảnh khác nhau, một thời kỳ khác nhau, nhưng đều bao hàm một ý nghĩa riêng, quyết định phương hướng hành động của tôi.

Bây giờ nhìn lại tổng quát những điều Bác dạy tôi thấy đó chính là nguyên lý giáo dục và phương châm y tế của Đảng mà chúng ta có nhiệm vụ làm cho nó thật sự thấm sâu trong cán bộ giảng dạy và học sinh, để trên cơ sở đó mọi người tích cực chủ động trong mọi suy nghĩ và hành động.

Để thực hiện phương châm tự lực cánh sinh trong giáo dục, chúng ta cần phải rèn luyện học sinh theo tinh thần độc lập suy nghĩ và chủ động học tập. Muốn đạt được những yêu cầu trên đây thì phải làm cho học sinh động não, khơi gợi trí thông minh của họ. Như thế ta mới thực hiện được phương pháp dạy ít, hiểu nhiều, học sâu thấy rộng và đã biến “quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”. Nói một cách khác, chúng ta phải dạy cái cơ bản, cái bản chất, cái quy luật mà nội dung là vấn đề phương pháp. Cũng như cái cày đối với người nông dân, cái búa đối với người công nhân, ở người làm công tác khoa học, ở người lao động trí óc, phương pháp là công cụ để làm việc. Nói tóm lại, chúng ta phải dạy “óc nghề” chứ không phải chỉ dạy kỹ thuật.

Một điểm khác vô cùng quan trọng mà Bác căn dặn là học tập phải gắn liền với thực hành. Phương châm này quan hệ hữu cơ với quan điểm tự lực cánh sinh và cả hai đều là nguyên lý cơ bản của nền giáo dục mới. Đối với người lao động trí óc, làm công tác khoa học kỹ thuật, có nắm vững được phương châm này mới thu được kết quả, bởi vì nó cho phép chúng ta giải quyết mọi vấn đề khoa học kỹ thuật một cách toàn diện và luôn nhắc nhở chúng ta rằng lý luận xuất phát từ thực tiễn và phải được thực tiễn giám sát. Do đó, vừa học vừa làm, vừa làm vừa học, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.

Đối với người thầy thuốc, Bác dạy “Lương y phải như từ mẫu”, chúng tôi thường nói: Khoa học mà không có lương tâm thì chỉ huỷ hoại tâm hồn, lương tâm mà không có khoa học thì chỉ huỷ hoại cơ thể. Mỗi khi khoa học và lương tâm được kết hợp nhuần nhuyễn với nhau thì nó sẽ trở thành thẩm mỹ của trí tuệ! Do đó, những người làm công tác khoa học kỹ thuật trong chế độ mới phải đỏ và chuyên, ở người thầy thuốc, vấn đề đó lại thể hiện rõ ràng hơn, vì đối tượng phục vụ của thầy thuốc là con người, cho nên ở người thầy thuốc vấn đề đỏ và chuyên cần phải gắn bó với nhau một cách hữu cơ trong một thể thống nhất và càng quán triệt đường lối quan điểm của Đảng bao nhiêu thì người thầy thuốc càng phát huy vai trò của mình trong xã hội bấy nhiêu.

Hồ Chủ tịch không còn nữa, nhưng tư tưởng của người còn sống mãi. Cách tốt nhất thể hiện sự biết ơn đối với Người là làm sao cho các thế hệ người Việt Nam chúng ta mãi mãi tiếp tục sự nghiệp của Người, thực hiện những tư tưởng của Người. Khi sống, Bác luôn luôn vạch ra cho chúng ta con đường đi. Khi qua đời, Người để lại cho chúng ta những tư tưởng được kết tụ lại trong bản Di chúc bất hủ làm kim chỉ nam cho hành động của chúng ta mãi mãi về sau. 



* Trích: “Hồ Đắc Di - Cuộc đời và sự nghiệp”. NXB Y học. Hà Nội. 1999

** Nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Quốc hội các khóa 2,3,4; Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội; Tổng Giám đốc Đại học vụ Việt Nam; Giám đốc Vụ Đại học và Trung học chuyên nghiệp; Ủy viên BCH Trung ương MTTQ Việt Nam.


>>>>> Xem thêm:  Giáo sư, Bác sĩ Hồ Đắc Di (1900 - 1984) và những kỷ niệm với Bác Hồ



(Theo Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên Huế)



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


  Những bản tin khác:




 Học tập và làm theo lời Bác 

 Tìm kiếm 
Tìm trên trang Bác Hồ với Huế
Tìm bằng Google
 Tìm hiểu về Đảng - Chính phủ 

 Tìm hiểu về Bác Hồ 
 Lời dạy của Bác 
Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ:

Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.
Hồ Chí Minh.
 Huế xưa và nay 






 CA KHÚC VỀ BÁC HỒ 

 THƯ VIỆN VIDEO 

 Liên kết website 
 Thông tin liên hệ 
 Số lượt truy cập 
   Tổng lượt truy cập 608909
    Hiện tại có 1 khách
Trang chủ    ¤   Ý kiến của bạn    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Tải Files Phát triển bởi: Minh Luật Pro