Tin mới:   
Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn được gặp Bác Hồ năm 1946
14.11.2012 10:15

ĐƯỜNG ĐẾN VỚI BÁC HỒ *

 

 

 


Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn

Sinh năm: 1905

Quê quán: Làng Thanh Lương, huyện Hương Trà,

tỉnh Thừa Thiên Huế

                     GS, VS Nguyễn Khánh Toàn

 

Học xong tiểu học cao đẳng, tôi phải xin đi làm để nuôi mẹ và giúp gia đình lúc này đang còn trong cảnh túng thiếu. Trên đường đi nhận công tác, tôi ghé đến nhà người bạn của anh tôi tại thành phố Đà Nẵng, anh là một viên chức bưu điện, lớn hơn tôi độ dăm tuổi. Anh niềm nở mời cơm thân mật và dắt tôi đi thăm cảng. Về nhà, anh cho xem một bài - hai trang đánh máy bằng tiếng Pháp, dưới ký tên Nguyễn Ái Quốc. Đó là bài “Con Rồng Tre”. Nội dung đả kích tên vua bù nhìn Khải Định vác cái xác thối của hắn với cả cái triều đình hề phường chèo của hắn sang chầu nước mẹ. Bài viết tuy không kể tội ác thực dân Pháp nhưng qua việc mô tả tư cách của một tên vua bù nhìn - công cụ của thực dân, người đọc hiểu rằng người Việt Nam và thực dân Pháp không thể đội trời chung, bọn vua quan chỉ làm tay sai cho giặc. Dựa vào thực tế lịch sử, bài báo gợi lên một cách nhẹ nhàng lòng tự hào dân tộc, tự hào về những truyền thống anh hùng, bất khuất của cha ông và chỉ cho người đọc phương hướng đấu tranh.

Từ đó Nguyễn Ái Quốc, cái danh tính mà tình cờ tôi được biết qua một bài báo ngắn, gọn, có tính chất châm biếm không ra khỏi ký ức của tôi. Và cũng từ đó, trong tiềm thức của tôi, đã chớm nở cái tinh thần tích cực.

Tôi đến nhận công tác ở một tỉnh nhỏ. Ở đó nhân dân sống rất nghèo khổ nhưng có truyền thống quật cường. Hồi phong trào chống thuế 1908, nông dân ở đây đấu tranh rất oanh liệt. Thực dân Pháp trấn áp cực kỳ dã man. Đây cũng là nơi phát động Tổng khởi nghĩa (khởi nghĩa Ba Tơ) và giành chính quyền sớm hơn hết hồi tháng Tám năm 1945.

Lĩnh lương tháng thứ nhất, việc đầu tiên là tôi gửi mua báo “Diễn đàn của người bản xứ”. Hồi đó đây là tờ báo duy nhất của người Việt Nam phê phán công khai chính sách của thực dân Pháp ở Đông Dương. Vả chăng, ở đây, người ta sống như trong cái hũ. Nếu giúp được người xung quanh quen nhận việc đời với con mắt phê phán, thì cũng là một việc bổ ích. Nhận được báo, đọc xong, tôi chuyển cho những đồng sự gần gũi.

Nhưng điều mà tôi trù tính khi mua báo, là viết bài để đăng báo. Bài đầu tôi viết ngắn gọn, chừng 20 dòng, kể lại một việc mới nhất xảy ra ở Huế trong cách đối xử tàn bạo của thực dân Pháp với người Việt Nam. Tôi phải dùng bí danh, vì công chức “Không được làm chính trị”. Phê bình chính quyền “Bảo hộ” là làm chính trị.

Trong số báo nhận được cách mười hôm sau, có bài của tôi.

Thế là bắt đầu từ đó, tôi “đi vào nghề”. Bước đầu ấy còn chập chững, vụng về, nhưng hình như nó cũng đã châm ngòi, hoặc làm tín hiệu cho đời sống giác ngộ của tôi sau này. Lời dạy nhẹ nhàng nhưng thấm thía, tuy gián tiếp, của vị lãnh tụ còn ở xa cách hàng vạn dặm, lọt vào tai tôi khi qua Đà Nẵng đã có tác dụng.

     

Làm giáo viên tập sự được một năm, tôi xin đi học trường Cao đẳng Sư phạm Hà nội (1923). Đây là một trong những trường thuộc hệ thống “Đại học Đông Dương”. Sinh viên là những người đã tốt nghiệp tiểu học cao đẳng, hoặc trung học bản xứ. Hà Nội là thủ đô của “Liên bang Đông Dương”, cho nên trường đại học có sinh viên của cả “5 xứ” (Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ, Miên Và Lào).

Năm 1923, không khí trong nước đã bắt đầu khác trước. Lớp thanh niên trí thức lớn lên sau chiến tranh không thể không nghe đến Cách mạng Tháng Mười, đến phong trào cách mạng đang rung chuyển thế giới thuộc địa, nhất là nước láng giềng rất gần gũi Việt Nam - Trung Quốc. Họ không thể không biết đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Pháp, gắn liền với tên tuổi của người cộng sản Việt Nam đầu tiên - Nguyễn Ái Quốc.

Hà Nội là nơi tập trung một bộ phận thanh niên trí thức trong nước. Gặp nhau, họ trao đổi tin tức, cho nhau mượn sách báo. Vì vậy, thực dân đàn áp việc mua báo “Chuông rè” không những không làm cho thiên hạ khiếp sợ, mà còn gợi cho những người khác sự thèm khát đọc các đồ “quốc cấm”. Cũng từ đó, các báo “Nhân đạo”, “Người cùng khổ” và các tác phẩm của Lê-nin, các sách chính trị, lọt vào các trường ngày càng nhiều. Đương nhiên là đọc lén lút, nhưng cũng có khi đọc “công khai”. Một lần được một tờ “Người cùng khổ”, tôi giở ra đọc trong giờ giáo sư lên lớp, mặc dù cố giấu, nhưng ngồi trên bục giáo sư vẫn nhìn thấy, ông ta chỉ nhắc nhẹ:

- Ông x, lúc này không phải lúc đọc báo.

(Ông giáo thế là khôn, làm to chuyện lúc này chẳng lợi ích gì, kết quả có thể ngược lại).

Thanh niên, học sinh, sinh viên ngày càng chú ý đến thời cuộc. Họ bàn tán. Có khi mượn cột báo để thổ lộ tâm sự. Sự ham mê đọc sách báo chính trị đã chớm nở. Họ vớ được gì đọc nấy, chưa phân biệt vàng thau. Bên cạnh sách của Lê-nin, họ còn đọc về chủ nghĩa Tam dân, chủ  nghĩa Găng-đi, sách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, dầu muốn chọn lọc, phân biệt cũng chưa có cơ sở. Giống như người cùng khổ đi đường xa trong lúc nắng hạn, đang khát, gặp giếng uống nước giếng, gặp ao uống nước ao, gặp suối uống nước suối.

Như vậy là vào những năm 20, thanh niên trí thức đã bắt đầu thức tỉnh trong một hoàn cảnh chính trị xã hội khá phức tạp. Tình hình ấy có thể nguy hiểm đối với vận mệnh chính trị của thanh niên nếu nó kéo dài, nếu họ không có chỗ dựa vững chắc.

Nhưng cũng may, Việt Nam đã đi vào giai đoạn mới, giai đoạn hiện đại của cách mạng giải phóng dân tộc trong khi tư tưởng tiến bộ nhất của thời đại, tư tưởng Mác - Lê-nin đã chiến thắng trên một phần sáu trái đất. Cũng vào lúc đó, giai cấp công nhân Việt Nam đã lớn lên thành một giai cấp vì mình. Thông qua đồng chí Nguyễn Ái Quốc, họ đã tham gia xây dựng phong trào cách mạng và phong trào cộng sản quốc tế, và đang vươn lên phấn đấu để giành quyền lãnh đạo cách mạng trong nước.

Về mặt tư tưởng thì ngoài các báo như “Người cùng khổ”, “Nhân đạo” và sách của Lê-nin, công trình có hệ thống đầu tiên có tác dụng chuyển hướng cho sự suy nghĩ của thanh niên trí thức, là “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Khi đầu chỉ một hai người trong sinh viên nhận được tác phẩm này. Nhưng không bao lâu, nhiều người đã biết đến. Vì sao nó lan nhanh như vậy? Bí quyết là ở chỗ: cụ thể, thiết thực, thẳng thắn, rõ ràng, dứt khoát. “Bản án chế độ thực dân Pháp” nêu ra những việc thật, người thật, lấy từ trong đời sống hàng ngày trên đất nước mình, của tuyệt đại đa số trong nhân dân, họ là rường cột của cuộc sống xã hội, cũng là những tầng lớp bị áp bức và bị bóc lột hơn hết.

“Bản án chế độ thực dân Pháp” gợi cho họ nhận ra rằng ánh sáng và sức mạnh chính là ở lòng căm thù chủ nghĩa thực dân bóc lột tàn bạo mồ hôi, nước mắt và xương máu đồng bào mình. Nó chuẩn bị cho lý trí đi tới nhận thức về đường lối của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Điều quan trọng trước mắt là nó nói lên rằng đường lối đó dứt khoát phải là đường lối cách mạng.

Từ đó, hình ảnh của vị lãnh tụ cách mạng trẻ tuổi bắt đầu rõ dần trong tâm trí của những người chống thực dân. Cũng từ đó, đối với cả nước, Nguyễn Ái Quốc đã là một niềm hy vọng, giống như tia sáng đầu tiên ở chân trời lúc rạng đông, báo hiệu mặt trời sắp mọc. Tên tuổi của Người đã khắc vào tâm khảm của nhân dân ta như là lãnh tụ đương nhiên của cách mạng Việt nam. Sự thừa nhận vai trò lịch sử của Người hình như đã có sẵn mầm mống trong tiềm thức của mọi người, nhờ một sự nhạy cảm, một thứ linh tính cách mạng.

Phong trào những năm 1925-1926 đã bộc lộ quá rõ những mâu thuẫn bên trong của nó: đông đảo quần chúng nhân dân đã thức tỉnh, muốn tham gia công việc cứu nước, nhưng vì họ chưa được tổ chức, cho nên quy mô còn bị hạn chế.

Lịch sử đã đặt ra vấn đề tức là cũng đã có cách giải quyết. Vì thế, tên tuổi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở thành ngọn cờ tung bay dưới trời Việt Nam, thu hút sự chú ý của hàng trăm triệu cặp mắt. Phải chăng vì tên tuổi ấy là biểu tượng, kết tinh của hàng triệu khối óc và hòa cùng nhịp đập với hàng triệu con tim.

*        *

*

Vì những hoạt động chống Pháp, sau khi tốt nghiệp tôi không được bổ nhiệm làm giáo sư ở bất cứ một trường công nào. Như vậy là từ nay tôi được rảnh tay để làm theo chí hướng và lương tâm của mình, phục vụ sự nghiệp yêu nước. Tôi vào Sài Gòn, một số anh em trí thức ở Sài Gòn phần nhiều là giáo sư tư thục, và các anh em ở Huế, ở Nghệ Tĩnh, trong đó có Hà Huy Tập động viên cổ vũ tôi đứng ra chủ trì một cơ quan ngôn luận làm diễn đàn cho lớp thanh niên cách mạng. Tôi lập ra tờ báo tiếng Pháp “Le Nhà Quê” vừa làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.

 Năm 1927, luật sư Phan Văn Trường mời tôi làm chủ bút báo L’ Annam. Đây là tờ báo có ảnh hưởng ở cả Trung, Bắc và Pháp. Tờ báo công khai tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, nói về tình hình Liên Xô, thỉnh thoảng trích những bài trong báo L’Humanite viết về Việt Nam và đăng toàn bộ Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của Mác và Ăng-Ghen... Cùng với anh Hà Huy Giáp, Trần Huy Liệu tổ chức truy điệu Lương Văn Can vừa mới từ trần. Vì những tội trên tôi bị kết án hai năm tù treo. Theo bước chân của Nguyễn Ái Quốc cách đây 17 năm, tôi sang Pháp, ở ngoại ô Paris với một nhóm Việt Kiều phần nhiều là người Nam bộ. Một thời gian không lâu ở Pháp, tôi được đồng chí Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp, lúc đó là Semard giới thiệu sang học trường Đại học Cộng sản Phương Đông. Đó là trường Đảng của những người cộng sản Phương Đông ở Liên Xô, quê hương của cách mạng Tháng Mười. Không đầy một năm sau, tôi được Bộ Phương Đông của Ban chấp hành Trung ương Quốc tế Cộng sản đặc cách chuyển lên Ban nghiên cứu sinh của Viện nghiên cứu khoa học về các vấn đề dân tộc và thuộc địa trực thuộc Ban chấp hành Trung ương Quốc tế cộng sản. Tôi đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ đề tài “Chiến tranh nông dân ở Đông Dương thế kỷ 18: Khởi nghĩa Tây Sơn”. Trong khi học và làm việc tại trường Đại học Phương Đông, tôi còn tham gia giúp đỡ việc cho Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Công hội đỏ, Quốc tế Thanh niên ...

 Năm 1939, tôi được lệnh về nước qua đường Trung Quốc, nhưng đi được nửa đường thì tắc. Theo đề nghị của Chu Ân Lai, tôi về Diên An giúp Đảng Cộng sản Trung Quốc đào tạo cán bộ. Thế là tôi trở thành giáo sư của trường “Trung Quốc nữ tứ đại học”, tôi tham gia giảng dạy khoa lịch sử cách mạng thế giới và khoa tiếng Nga với bí danh là giáo sư Hoàng Chính Quang.

Hơn năm năm trôi qua, sau cách mạng tháng Tám năm 1945 tôi mới có dịp về nước cùng với đồng chí Nguyễn Sơn. Tôi được Trung ương Đảng giao nhiệm vụ huấn luyện cán bộ ở các khóa đầu tiên của trường Nguyễn Ái Quốc, bộ môn giảng dạy của tôi là chủ nghĩa Mác-Lênin.

Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ngày 6/1/1946 bầu ra Chính phủ mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tôi được cử vào Chính phủ giữ chức thứ trưởng. Hồ Chủ tịch giao cho tôi cùng với Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên xây dựng ngành giáo dục, chức vụ này tôi giữ mãi đến năm 1965.

Chính phủ mới chỉ thành lập được hơn một tháng thì đêm ngày 19/12/1946 chiến tranh bùng nổ khắp cả nước. Bác Hồ và Chính phủ lấy Việt Bắc làm căn cứ địa, giữ vững vùng nông thôn và miền núi, tiếp tục xây dựng lực lượng vũ trang để tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Mặc dù địch đánh phá nhưng công tác giáo dục vẫn được quan tâm. Một chỉ thị của Bác về phát triển giáo dục trong kháng chiến làm tôi vô cùng phấn khởi và lo lắng làm đúng lời Bác dạy. Hai ngày sau khi sơ tán ra ngoại thành, Bác gửi cho tôi mảnh giấy tự tay Bác đánh máy, chỉ mấy câu ngắn gọn nhưng đã trở thành đường lối: “Phải kết hợp học với hành; một ngày chia làm hai buổi: buổi sáng học chữ ở lớp, buổi chiều học sinh giúp gia đình trong công việc sản xuất ở đồng áng”.

Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên và tôi, hai anh em thảo ra một bản chỉ thị phổ biến chủ trương đó cho các trường phổ thông trong cả nước.

Khi mới sơ tán năm 1946, tôi xin phép Trung ương lập ra một trường đại học chính trị đầu tiên mà học viên là những trí thức trẻ tuổi, tiến bộ thuộc Đoàn thanh niên cứu quốc được triệu tập về học, có trình độ trung học tú tài cũ trở lên và học thêm ba thứ tiếng nước ngoài: Anh, Trung, Nga.

Năm 1949-1950, tôi đề xướng với bộ thành lập trường cao đẳng Mỹ thuật khóa kháng chiến và tập hợp một số anh em văn nghệ sĩ gồm 28 học viên để học, cử hai họa sĩ là Tô Ngọc Vân và Trần Văn Cẩn phụ trách.

Năm 1951-1952, để bảo toàn lực lượng trí thức và chuẩn bị đội ngũ cán bộ khoa học sau khi kháng chiến kết thúc, tôi tập hợp một số anh em trí thức trẻ có trình độ tự nhiên cao (toán, lý) thành lập trường khoa học cao cấp có cả bậc đại học, gồm trường Sư phạm cao cấp và trường khoa học cơ bản.

Năm 1953, tôi đề xướng với Bộ tổ chức trường Sư phạm miền núi Trung ương.

Ở Bộ Giáo dục có vụ Giáo dục dân tộc thiểu số, vụ sư phạm, vụ văn hóa nghệ thuật, ban mẫu giáo và ban văn sử địa tôi thành lập năm 1950, sau gọi là ban văn- sử-đại đặt ở văn phòng Trung ương Đảng, rồi chuyển sang Bộ Giáo dục năm 1954, và chuyển sang ủy ban Khoa học Nhà nước.

Tôi rất phấn khởi làm công tác giáo dục trước hết là vì được Bác chỉ đạo thường xuyên. Ở sơ tán trên Việt Bắc, mỗi lần họp Hội đồng Chính phủ Bác đều bắt chúng tôi báo cáo về công tác giáo dục. Bác khen những cái làm đúng, chê trách khá nghiêm khắc những cái không tốt: cán bộ cũ của ngành giáo dục hay dùng danh từ chữ Hán đầy rẫy trong sách giáo khoa như đồ dùng dạy học thì gọi là “giáo cụ trực quan”, năm học thì gọi là niên khóa, trường học thì gọi bằng học đường v.v...mỗi lúc Bác nghe, Bác chỉnh cho nên thân.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, một lòng một dạ phục vụ đường lồi chính trị của Đảng, ra sức góp phần với toàn dân, phấn đấu vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mền Bắc, vì sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất nước nhà, ngành giáo dục đã lớn lên nhanh chóng cùng với những thắng lợi to lớn của cách mạng. Cách mạng Việt Nam đang tiến những bước vô cùng nhanh chóng, to lớn và vững chắc. Ngành giáo dục cũng đang đứng trước một triển vọng phát triển hết sức rộng lớn.

                                


* Trích từ sách: Nguyễn Khánh Toàn – Năm tháng cuộc đời. NXB Kim Đồng. 2005.

** Nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục; Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước; Phó Ban Khoa giáo Trung ương; Đại biểu Quốc hội khóa II, II; Viện sĩ Viện Hàn lâm Cộng hòa Dân chủ Đức...


>>>>> Xem thêm: Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn (1905-1993)



(Theo Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên Huế)



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


  Những bản tin khác:




 Học tập và làm theo lời Bác 

 Tìm kiếm 
Tìm trên trang Bác Hồ với Huế
Tìm bằng Google
 Tìm hiểu về Đảng - Chính phủ 

 Tìm hiểu về Bác Hồ 
 Lời dạy của Bác 
Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ:

Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.
Hồ Chí Minh.
 Huế xưa và nay 






 CA KHÚC VỀ BÁC HỒ 

 THƯ VIỆN VIDEO 

 Liên kết website 
 Thông tin liên hệ 
 Số lượt truy cập 
   Tổng lượt truy cập 674801
    Hiện tại có 1 khách
Trang chủ    ¤   Ý kiến của bạn    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Tải Files