Tin mới:   
Nhà thơ Tố Hữu được gặp Bác Hồ năm 1951
14.11.2012 09:38

NHỚ LẠI MỘT THỜI *

 

 


Đồng chí: Tố Hữu (Nguyễn Kim Thành)

Sinh năm: 1920

Quê quán: Xã Quảng Thọ, Quảng Điền,

tỉnh Thừa Thiên Huế.

                                                                                                   Tố Hữu **

  

         Tại Đại hội đai biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng (11 - 19/2/1951), tôi được cử vào Ban Chấp hành Trung ương, làm ủy viên dự khuyết. Lúc ấy tôi 31, không trẻ lắm, nhưng so với các anh khác là loại em út. Tôi vẫn được phân công làm công tác tuyên truyền và văn hóa. Vì công việc này và có lẽ đã là ủy viên Trung ương nên dễ được gần Bác hơn để nhân các chỉ thị về công tác tư tưởng, văn hóa. Chính nhờ vậy mà vào tháng 5/1951, tôi viết được bài thơ Sáng tháng 5.

        Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc, do yêu cầu an toàn nên thường thay đổi chỗ ở. Nhưng dù ở đâu, nơi ở của Bác cũng phải có cây xanh bóng mát, nguồn nước suối trong. Vào một ngày tháng 5 năm 1951 đáng nhớ ấy, tôi được Bác gọi lên làm việc. Lần đầu ở chiến khu được đến gặp Bác, tôi rất hồi hộp. Cảnh Việt Bắc vào đầu hè trời trong sáng, bốn bề một màu xanh ngút mắt. Con đường đến nhà Bác men theo một dòng suối trong vắt mát lạnh, hai bên bờ là những nương ngô xanh mướt. Cảnh vật và tình người ấy được rả trong mấy câu đầu của bài thơ :

 

                            Vui sao một sáng Tháng Năm

                       Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ

                            Suối dài xanh mướt nương ngô

                       Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn.

 

         Thấy tôi đến, Bác gọi vào và bắt tay dịụ dàng. Tôi hết sức cảm động khi được nắm bàn tay của Người, bàn tay nồng ấm, và ngay lập tức, nó cho ta cái cảm giác gần gũi, thân tình. Bác chỉ một chiếc ghế nhỏ, bảo tôi ngồi chờ một chút, vì Người đang vội viết nốt một cái gì đó. Tôi ngồi chờ và nhìn quanh nơi ở và làm việc của Người: Căn nhà sàn nhỏ vách mai, mái nứa, cột tre thoáng mát, chiếc giường nhỏ và cái bàn viết đều làm bằng những cây vầu đập dập. Tôi rất chú ý đén một cái bồ xinh xinh ở góc bàn. Đó là cái bồ đựng công văn để khi cần di chuyển có thể mang đi dễ dàng. Mấy chú bồ câu tha thẩn ngoài sân, có khi bay qua cửa sổ vào nhà, đi quanh bồ công văn tìm thức ăn. Tôi nghe nói lúc làm việc căng thẳng quá, hoặc lúc nghỉ ngơi Bác thường rắc thóc cho mấy chú chim. Tôi lặng lẽ ngắm nhìn, muốn in thật sâu vào lòng mình hình ảnh của Bác. Người ngồi đó, sao giản dị đến vậy: Bộ quần áo nâu, đôi dép cao su, dáng cao gầy, đôi mắt sáng và bộ râu rất thoáng của một cụ già Việt Nam nhân từ. Vậy mà con người này đang là linh hồn của cuộc kháng chiến vĩ đại. Nhân dân cả nước đều gọi Người là cha già dân tộc, tuy lúc này Người mới hơn sáu mươi tuổi.

        Bác viết xong, quay lai hỏi tôi:

           - Công việc của các chú thế nào? Chú làm tuyên truyền mà ở trong rừng núi thế này thì nói với ai, và làm sao mà thấy được quân dân ta đánh giặc ra sao?

        Vậy là Bác đã nói với tôi một vấn đề mà chúng tôi đang cảm thấy rất khó xử. Nếu được tùy ý đi về các địa phương, vào vùng sau lưng địch hay vào khu IV, nhất là vùng Bình Trị Thiên quê tôi, thậm chí đi vào sâu hơn nữa, đến tận mũi Cà Mau thì hay biết mấy. Nhưng như thế thì bỏ cơ quan cho ai. Tôi nói điều đó với Bác, Bác châm một điếu thuốc, chănm chú lắng nghe tôi nói rồi ân cần bảo:

          - Chú không đi được nhiều, thì đi ít và gần thôi. Theo Bác, tốt nhất là biết được nơi nào chiến đấu giỏi thì mời chính cán bộ và chiến sĩ nơi ấy về kể lại cho anh em nghe, cho tất cả anh em ở Trung ương nghe. Như vậy anh em được báo cáo chiến công của mình, cán bộ cơ quan cũng được hiểu tình hình tốt hơn.

       Ngày nay, việc tổ chức hội nghị thi đua, báo cáo điển hình tiên tiến chẳng có gì lạ với chúng ta, nhưng lúc đó, với tôi, lời Bác là sự gợi mở lớn lao. Nghe Bác nói tôi mới nhận ra rằng nếu những tấm gương điển hình trong chiến đấu và sản xuất được báo cáo cụ thể, sinh động, rồi đúc kết lại thành những bài học lớn, sâu sắc cho toàn quân và toàn dân biết thì tác dụng của nó sẽ được nhân lên gấp bội. Tôi thưa với Bác:

           - Cháu xin có một đề nghị: Cuộc kháng chiến đã được 5 năm rồi, rất có nhiều anh hùng và chiến sĩ thi đua như anh La Văn Cầu, chị Nguyễn Thị Chiên. Nếu Trung ương chủ trương tổ chức một Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc thì cháu nghĩ rất tốt. Và như vậy mới thực hiện được lời Bác dạy:

                                 Người người thi đua

                                 Ngành ngành thi đua

                                 Ta nhất định thắng

                                 Địch nhất định thua

               Có phải thế không ạ?

         Bác nhìn tôi vẻ hài lòng:

           - Ý chú được đấy. Nên báo cáo với đồng chí Trường Chinh xin ý kiến Thường vụ

        Được lời như cởi tấm lòng, tôi sung sướng quá.

        Chào Bác ra về, tôi cảm thấy lâng lâng vì chỉ một lúc được gặp bác, được trình bày những khó khăn trong công tác mà đã được Bác chỉ cho một cách làm mới mẻ. Những gì tôi viết trong bài Sáng tháng Năm dường như đều được viết ra từ những tình cảm, suy nghĩ đẹp nhất của buổi sáng đáng ghi nhớ ấy: Sung sướng đến dạt dào, tự hào và kính yêu Bác vô hạn

                               Bác Hồ đó là lòng ta yên tĩnh

                               Ôi người cha đôi mắt mẹ hiền sao

                              Giọng của Người không phải sấm trên cao

                               Thấm từng tiếng ấm vào lòng mong ước 

                               Con nghe Bác tưởng nghe lời non nước

                               Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau ...

 

                               Bác Hồ đó, chiếc áo nâu giản dị

                               Màu quê hương bền bỉ đậm đà

                               Ta bên Người, Người tỏa sáng quanh ta

                               Ta bỗng lớn ở bên Người một chút ...

         Tất cả đều là những cảm nhận rất chân thật từ đáy lòng. Trong đời làm thơ của tôi, đây là lần đầu tiên tôi viết được một bài thơ về Bác như vậy. Sự giản dị hồn nhiên của Bác trong phong cách, từ quần áo, giọng nói, cử chỉ, không một chút gì cao siêu, mà rất gần gũi, bình thường, đã cho tôi thêm tự tin, không bị choáng ngợp như một tín đồ nhìn một vị Thánh. Bác đơn giản là một con người rất “người”, và chính vì thế mà mọi người đều thân thiết thấy Bác là “của mình”, mọi cái hay, cái đẹp, cái đúng của Người đều có thể vươn tới. Bài thơ của tôi phần nào nói lên được sự giản dị, vĩ đại ấy của Bác nên dễ đi vào lòng người. Sau này tôi còn viết nhiều bài thơ về Bác, một phần rất quan trọng cũng chính từ ấn tượng sâu sắc buổi ban đầu này.

        Được Bác cho ý kiến, tôi báo cáo với ban thường vụ Trung ương Đảng. Từ ngày 1/5 đến ngày 6/5/1952, Trung ương triệu tập Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua lần thứ nhất. Đây là lần đầu trong núi rừng Việt Bắc, hội tụ các anh hùng và chiến sĩ thi đua từ các mặt trận và các địa phương về trong một hội trường lớn bằng tre nứa. Mọi người lắng nghe tiếng nói của chính những người làm nên những chiến công oanh liệt và những thành quả lao động xuất xắc. Chẳng ai có bài bản gì. Họ được nói thật những điều họ làm, họ nghĩ, và điều kỳ diệu là những sự thật sôi động và giọng nói chân thực của họ làm rung động tim óc mọi người nghe. Không một chút nào có ý khoe khoang, tự phụ. Xin kể ở đây một số người như thế: Đó là anh hùng La Văn Cầu, người dân tộc Tày, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, Là chị Nguyễn Thị Chiên, 22 tuổi, quê ở Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, anh hùng Cù Chính Lan, anh hùng thiếu tướng Trân Đại Nghĩa, anh hùng lao động Ngô Gia Khảm ...

        Trong đại hội lần thứ nhất này ở Việt Bắc có 8 anh hùng (5 lực lượng vũ trang và ba anh hùng lao động), cùng 150 chiến sĩ thi đua toàn quốc.

        Nghe các anh hùng báo cáo, không những ta hiểu sâu những đức tính quí báu, mà còn biết thêm nhiều kinh nghiệm, sáng kiến của những con người vô cùng thông minh nhạy bén trong những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, nguy hiểm. Càng nghe, càng thấy ở đây không chỉ là những thành tích, những chiến công mà còn là những ý tưởng, tình cảm lớn của những con người thật sự vì dân vì nước, dám vượt qua mọi gian nguy, vượt qua cái chết để giành thắng lợi kỳ được. Trong ban tổ chức đại hội, có đồng chí cao hứng nói: “Đây là chủ nghĩa Mác Lê- nin đích thực, hơn mọi trang lý luận dài dòng và mờ nhạt”. Riêng tôi nhận được một bài học rất lớn về công tác tuyên truyền: dù hoàn cảnh nào của cách mạng, những đau khổ cũng như những chiến công, những thành tích cũng như khuyết điểm, tốt nhất là để người trong cuộc nói ra một cách trung thực, thì rất có ích cho công tác tuyên truyền. Công tác tư tưởng theo đó rất có hiệu quả.

        Không thể nào kể được ở đây những công trạng oanh liệt của các anh hùng, chiến đấu và lao động mỗi người một vẻ, vô cùng phong phú. Nhân tiện, tôi xin kể một chuyện lý thú mà tôi được biết, để hiểu thêm về lòng thương yêu bao la của Bác đối với các cháu thiếu niên. Vào cuối năm 1968, một đoàn dũng sĩ thiếu niên miền Nam được ra thăm Hà Nội. Bác Hồ liền cho gọi đến, hỏi chuyện từng cháu. Cháu nào cũng thật thà kể cho Bác nghe thành tích chiến đấu của mình, làm Bác rất vui. Cuối buổi gặp, Bác hỏi các cháu có mong ước gì, cứ nói. Có một cháu tên là Hòa ở Thừa thiên xin được gặp cha tập kết ra Bắc. Hỏi cha cháu tên gì, làm gì, ở đâu, cháu đếu không biết.Thế thì làm sao tìm ra được? Thấy tôi đang ngồi cùng các cháu, Bác liền bảo: “Chú liệu xem có thể tìm được cha cho cháu Hòa không?”. Biết là khó, tôi cũng xin nhận nhiệm vụ, bèn hẹn cháu đến nhà, hỏi cụ thể tên làng, huyện, và hoàn cảnh gia đình cháu thế nào. Lại hỏi thêm cháu, tên gọi ở nhà là gì. Nó bảo tên là Theo. Tôi nghĩ mãi mới nảy ra “sang kiến”  làm một bài thơ kể chuyện về cháu, may ra cha cháu ở đâu đó nhận ra con mìmh chăng? Thế là chuyện em Hòa được đăng trên báo Nhân dân. Chỉ mười hôm sau, tôi nhận được điện từ Quảng Bình gửi ra bảo rằng cha cháu đã đọc bài thơ và nhận ra cháu Hòa (với cái tên cu Theo) chính là con mình. Tôi liền nhờ các đồng chí Tỉnh ủy cho cha cháu ra Hà Nội ngay để gặp con. Bác Hồ được tin này rất vui, và “khen” tôi đã nhanh chóng giúp được cháu tìm thấy cha.

                                                                                     *      *       * 

          Tháng 10 năm 1965, Bộ Chính trị phái tôi vào khu Bốn để góp sức với anh em. Tôi vào xin ý kiến Bác trước khi đi, Bác bảo ngay:

            - Chú đã tính làm gì chưa ?

         Tôi thưa :

            - Khu Bốn là vùng nghèo đói, lại bị bom đạn thì tình thé rất khó khăn, các đảng bộ cũng chưa có nhiều kinh nghiệm. Trong cuộc chiến tranh phá hoại này, cháu nghĩ là có động viên được nhân dân hăng hái chiến đấu và sản xuất thì tình hình mới bền vững.

            - Làm thế nào động viên được đồng bào ? - Bác hỏi lại.

        Tôi liền thưa :

            - Dân mình thường nói : “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Cho nên cần trước hết chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh ...

        Bác cười :

            - Chú biết làm thế nào cho Đảng vững mạnh không ?

            - Dạ, phải giáo dục thật tốt cán bộ đảng viên.

            - Ai giáo dục ? - Bác hỏi lại.

        Tôi cảm thấy lúng túng, nghĩ rằng chắc Bác có ý kiến lớn, bèn thưa :

            - Xin Bác chỉ thị cho bọn cháu làm tốt.

        Đến đây Bác nói ngay :

            - Không nên hỏi Bác mà nên hỏi dân mới đúng. Theo Bác, chú nên bàn với các tỉnh ủy, huyện ủy cách làm này: đến từng cơ sở làng, xã, họp dân lại, nêu câu hỏi rất đơn giản “Ở làng xã ta, ai chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi” và mời dân phát biểu thẳng thắn. Họ sẽ chỉ cho mình biết những người ấy là ai. Rồi các chú xem lại, những đảng viên, cán bộ hiện nay, đã được bà con nhận xét thế nào ? Ai được dân tín nhiệm, khen giỏi cả hai mặt : sản xuất và chiến đấu, thì đó là đảng viên tốt, ai chưa được dân tin thì cần giáo dục thêm. Những đồng chí được dân yêu mến, tin cậy nhất mới xứng đáng là người lãnh đạo của đảng bộ. Trái lại, ai bị dân khinh ghét thì không thể lãnh đạo được, cần thay đổi ngay. Nhiều chú bây giờ xa dân quá, những điều Bác vừa nói l;à kinh nghiệm xưa nay, nhưng không mấy chú thực hiện. Thậm chí cứ để mãi trong đảng những đảng viên hư hỏng, lười biếng, hèn nhát, bị dân oán giận, thì còn lãnh đạo được ai ? Đó là ý kiến của Bác, chú có làm được không ?

        Bài học lớn về xây dựng Đảng, đơn giản thế mà bấy lâu nay ta quên mất rồi. Đúng như Bác nói : Chỉ có dân mới biết được ai thật xứng đáng là cán bộ, đảng viên. Dân ta rất tốt, rất tinh, biết tin dân thì mới được dân tin.     

        Từ đáy lòng, tôi cảm ơn Bác đã dạy bảo và quyết tâm thực hiện kỳ được. Thế là vào Quảng Bình, tôi đưa ngay chỉ thị của Bác ra bàn. Mời các đồng chí tỉnh ủy, cả các đồng chí bí thư, thường vụ xuống một số làng, xã làm ngay. Một tuần sau, anh em trở về tỉnh, báo cáo kết quả, thật bất ngờ. Chi bộ nào, kể cả bí thư, cũng được bà con thành thật nói rõ : ai giỏi, ai không giỏi về sản xuất và chiến đấu. Thậm chí có nơi bí thư bỏ chạy trốn khi địch bắn phá, để mặc dân tự lo liệu và cả làng đều hoang mang, lo sợ. Chi bộ liền họp ngay, cảnh cáo những đảng viên hèn nhát, bầu bí thư và chi ủy mới gồm toàn những đồng chí được bà con khen ngợi nhất, và công việc sản xuất cũng như chiến đấu chuyển biến tốt rất nhanh. Tôi góp ý với anh em có thể dùng hình thức “báo công, bình công”, để thúc đấy phong trào “Hai giỏi”. tạo không khí phấn khởi từ trong Đảng ra làng xóm.

        Cuối tháng 12-1968, Bác gọi tôi và cho xem bài thơ Tết Bác mới viết.Mới đọc đã thấy hai câu kết rất sảng khoái, tôi liền xin Bác cho đài và báo chuẩn bị viết bài theo cảm hứng lớn này :

 Năm qua thắng lợi vẻ vang

                        Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to  

                                 Vì độc lập, vì tự do

                        Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào !

            

        Đó là bài thơ xuân 1969 của Bác, và thực ra cũng là tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Bộ Chính trị trong việc phân chia giai đoạn ra mà đánh.

        Chao ôi, ai mà đoán được những ngày tháng đau lòng, Bác Hồ bắt đầu ốm, cứ tưởng có thể qua khỏi, nhưng Người cứ yếu dần, yếu dần, không cách gì cứu nổi. Và Bác đã ra đi vào 9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 năm 1969, ngày Người tuyên bố khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tại Quảng trường Ba Đình, 24 năm trước ! Lúc ấy, tôi đang ốm nặng ở bệnh viện Việt Xô, không được biết, vì các anh ở Bộ Chính trị rất lo cho bệnh tình của tôi. Mãi đến trưa 2/9, anh Xuân Thủy đến thăm tôi, mới kịp nói : Anh Lành ơi, Bác đã ...Anh òa lên khóc. Thế là thật rồi, tôi đã loáng thoáng biết Bác mệt nặng, nhưng ngờ đâu ! Từ bệnh viện, tôi chạy thẳng về căn nhà sàn của Bác thì các đồng chí đã đưa thi hài của Bác vào bệnh viện.

        Công cuộc chống Mỹ đang ở đỉnh điểm gian khổ ác liệt, nhưng cũng đang có những thắng lợi hết sức quan trọng thì Bác đã ra đi. Không sao tả hết được nỗi đau thương tiếc của quân và dân ta vào những ngày đáng nhớ ấy. Từ cụ già đến em nhỏ, từ những thiếu nữ đến những người lính dày dạn trận mạc, không ai cầm được nước mắt khi đứng trước bàn thờ Bác. từ hậu phương đến tiền tuyến, thành thị đến nông thôn, từ vùng giải phóng đến vùng địch tạm chiếm, kể cả trong các nhà tù của Mỹ Ngụy, đâu đâu nhân dân ta cũng dựng lên bàn thờ tưởng niệm Bác. Trong lễ tang được tổ chức trọng thể tại Quảng trường Ba Đình, đồng chí Lê Duẩn, Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng đọc lời thề của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trước anh linh của Người : “Vĩnh biệt Người, chúng ta thề; Giương cao mãi mãi ngọn cờ độc lập dân tộc, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước để thỏa lòng mong ước của Người”. Tiếng hô “Xin thề !” của hàng chục vạn người trên quảng trường vang lên như sấm dậy, thể hiện sự đoàn kết của cả dân tộc thành một khối sắt thép không gì phá vỡ nổi, kiên quyết đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

        Cho đến hôm nay, sau hơn 30 năm, tôi vẫn không thể nào quên buổi chiều ngày 2 tháng 9 ấy. Trong trời mưa tầm tã, tôi về căn nhà nhỏ, nơi Bác qua đời. Sau đó, tôi lại đến nơi nhà sàn, đứng dưới chân cầu thang gỗ nhìn mãi cái chuông nhỏ trên cao, bên cạnh phòng Bác ở mà không sao cầm được nước mắt. Nghe các anh nói lại những phút cuối cùng của Bác, càng vô cùng đau xót. Bác vẫn tỉnh táo, bảo các cháu y tá hát cho vui, và dặn các anh, đêm 2/9 này, cần bắn pháo hoa cho đồng bào vui ngày lễ. Tất cả những gì cần nói lại, Bác đã viết trong Di chúc đặt dưới gối.

        Suốt đêm ấy, tôi vừa khóc vừa viết bài Bác ơi!

                              Bác đã đi rồi sao Bác ơi !

                             Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời

                             Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội

                             Rước Bác vào thăm, thấy Bác cười !

                             ...

                             Ôi ! Phải chi lòng được thảnh thơi

                              Năm canh bớt nặng nỗi thương đời

                             Bác ơi, tim Bác mênh mông thế

                             Ôm cả non sông, mọi kiếp người !

 

         Bác ơi ! Thế là dân tộc ta, Đảng ta không còn được Bác trực tiếp dìu dắt đến ngày toàn thắng và cả đến mai sau. Nhưng Người đã để lại cho chúng ta một di sản vô cùng quý báu : Đó là cả cuộc đời cao quý, cả sự nghiệp cách mạng vĩ đại và đặc biệt, chính con người của Bác, một tấm gương sáng chói của đất nước và của cả nhân loại !

__________________

* Trích đăng nguyên văn từ tập sách Nhớ lại một thời. NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội - 2002.

** Nguyên Bí thư Trung ương Đảng. Trưởng ban Khoa giáo Trung ương, Phó Thủ tướng Chính phủ


>>>>> Xem thêm:  Nhà thơ Tố Hữu (1920-2002)



(Theo Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên Huế)



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


  Những bản tin khác:




 Học tập và làm theo lời Bác 

 Tìm kiếm 
Tìm trên trang Bác Hồ với Huế
Tìm bằng Google
 Tìm hiểu về Đảng - Chính phủ 

 Tìm hiểu về Bác Hồ 
 Lời dạy của Bác 
Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ:

Nhiệm vụ của thanh niên không phải là đòi hỏi Nước nhà đã cho mình những gì, mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho Nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi Nước nhà nhiều hơn ? Mình đã vì lợi ích Nước nhà mà hy sinh phấn đấu đến chừng nào?
Hồ Chí Minh.
 Huế xưa và nay 






 CA KHÚC VỀ BÁC HỒ 

 THƯ VIỆN VIDEO 

 Liên kết website 
 Thông tin liên hệ 
 Số lượt truy cập 
   Tổng lượt truy cập 737057
    Hiện tại có 1 khách
Trang chủ    ¤   Ý kiến của bạn    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Tải Files