Tin mới:   
Trung tướng Lê Tự Đồng được gặp Bác Hồ năm 1964
13.11.2012 17:05

ĐINH NINH LỜI BÁC DẠY *

  

 

 

Đồng chí: Lê Tự Đồng

Sinh năm: 1920 

Quê quán: Phường Kim Long, thành phố Huế,

tỉnh Thừa Thiên Huế.

                                                                                                        Trung tướng Lê Tự Đồng **

 Bác Hồ rất quan tâm đến lực lượng vũ trang. Tôi là người lính đứng trong lực lượng vũ trang ấy, nên được nhiều lần gặp Bác. Bên quân đội có việc gì quan trọng, thế nào cũng thấy Bác đến thăm. Bác đến thăm việc rèn luyện bộ đội. Bác đến Hội nghị Quân uỷ, Bác đến thăm Hội nghị cán bộ cao cấp của Quân đội ở Việt Bắc. Khi đất nước hoà bình Bác đến tham gia các hoạt động ấy của Quân đội, nên tôi cũng vinh dự được gặp Bác.

Nhưng kỷ niệm sâu sắc nhất, ấn tượng không bao giờ phai mờ là hai lần gặp Bác, một lần ở chiến khu Việc Bắc và một lần ở trường Lục Quân.

Bấy giờ vào năm 1964, anh Cao Văn Khánh làm Hiệu trưởng, tôi làm Chính ủy trường Lục quân. Được tin Bác đến thăm, chúng tôi huy động học viên dọn dẹp doanh trại gọn gàng, sạch sẽ, ngăn nắp.

Đoàn Bác đến không phải năm bảy xe ồn ào đâu. Đoàn chỉ có hai chiếc xe. Lệ thường, các cán bộ quan trọng thường ngồi xe sau. Bác đã phá lệ thường ấy, làm chúng tôi bất ngờ. Chúng tôi chạy xuống xe sau để đón Bác, quẩn quanh ngó vào trong xe, ai ngờ Bác đã tụt xuống xe trước. Chúng tôi ngẩn người, đành chạy theo.

Bác nói:

- Thôi, các chú dẫn Bác đi thăm anh em.

Tôi về coi sóc lại Hội trường, anh Cao Văn Khánh dẫn Bác đi.

Bác tới tận nhà bếp, vào nhà ăn. Bác không chỉ nghe mà muốn hiểu tường tận. Không chỉ muốn biết việc dạy dỗ ở trên lớp học, mà quan tâm đến đời sống thật cụ thể của người lính chúng tôi. Đó là đạo lý cao sang ở ngay trong đời thường, đời con người không thể vớ vẩn trên mây, trên gió được.

Lúc quay về, tôi với anh Cao Văn Khánh báo cáo tình hình nhà trường cho Bác nghe, Bác dặn:

- Này, ngắn gọn thôi nhé!

Nghe xong Bác bảo:

- Thôi ta đi gặp anh em hè!

Bác luôn luôn chủ động, không bao giờ để mất thời gian. Cách làm việc đầy đủ nhưng gọn gàng và chu đáo của Bác gây ấn tượng tính khoa học cho chúng tôi, đấy cũng là cách giáo dục con người.

Chúng tôi đưa Bác ra ban công. Khỏi phải nói anh em học viên sung sướng như thế nào khi được gặp Bác. Bác dặn dò học viên, có những câu ngắn gọn nhưng súc tích: “Các chú phải học cho tốt. Học ra học. Bởi vì học để chiến đấu cho tốt, chứ không phải học để hưởng hoà bình đâu”.

Ngoài Bắc khi ấy đã có nhiều đợt đi B rồi. Ngay trường Lục quân lúc bấy giờ cũng có một số học viên từ B ra. Lời dặn dò của Bác là huấn thị với những sỹ quan tương lai, sẵn sàng tư thế cho cách mạng miền Namphát triển rầm rộ sau này.

Tôi nhớ một hình ảnh rất sâu sắc. Đến thăm trường lần ấy, Bác có mang theo tấm ảnh của Người để tặng Trường. Khi nói chuyện với anh em học viên, Bác đặt tấm ảnh lên chính ngực mình. Bác chỉ tấm ảnh hỏi:

- Các cháu có biết ai đây không?

Anh em học viên nhao nhao trả lời:

- Dạ, biết ạ!

Bác lại chỉ tấm ảnh và chỉ trên đầu mình:

- Thế anh em thích cái này, hay cái này?

- Dạ, cả hai ạ!

Anh em trả lời rất thông minh. Bác tỏ ra hài lòng. (ngoài trường Lục quân bây giờ vẫn còn giữ được tấm ảnh vô giá ấy).

Gặp Bác, được nói chuyện với Bác bao nhiêu cũng chưa vừa, còn rất ít. Cuộc chia tay bao giờ cũng lưu luyến. Bao giờ cũng bất ngờ.

Chúng tôi mời Bác ở lại ăn cơm, Bác từ chối rất khéo:

- Thôi nhà Bác gần, Bác về.

Chúng tôi chúc sức khoẻ Bác. Hứa với Bác, nhà trường sẽ huấn luyện tốt, để có được đội ngũ sỹ quan trong quân đội đáp ứng được lòng mong đợi của Bác.

Không ngờ Bác đến thăm trường Lục quân lần này là lần cuối cùng. Từ thời trường mang tên Trần Quốc Tuấn đến khi trường đổi là trường Lục quân, cả thảy Bác đến thăm chín lần. Những tình cảm của Bác để lại cho trường không bao giờ quên được.

Mười sáu năm, trước khi gặp Bác ở trường Lục quân, bấy giờ vào năm 1948, tôi đã được đi trong Đoàn đại biểu Quân khu IV đến thăm Bác tại nhà riêng ở chiến khu Việt Bắc.

Bác mặc bộ quần áo nâu giản dị. Cúc cổ mở để lộ chiếc áo may ô đã cũ bên trong. Bác là thần tượng của chúng tôi, song khi gặp Bác, Bác giản dị và gần gũi, xoá ngay được ấn tượng xa cách.

Bác bắt tay từng người. Hết lượt rồi Bác còn hỏi:

- Còn ai Bác chưa bắt tay hè?

Bác quan tâm đến từng người, không để ai thiệt thòi dù chỉ một việc làm rất nhỏ.

Từ buổi gặp Bác ấy đến nay đã 12 năm, tôi vẫn nhớ đinh ninh hai điều Bác dặn:

Một là: “Ta đang yếu, Pháp mạnh hơn. Các chú cứ dàn quân hàng ngang đánh với nó không được đâu. Phải đánh du kích. Mình ở đâu nó cũng không biết. Mình đánh nó cũng không biết, dùng đánh nhỏ mà giết nó đã. Bây giờ mà ta dàn hàng ngang mà đối đầu với nó thì hỏng”.

Tương quan lực lượng lúc ấy, lực lượng vũ trang của ta còn yếu. Bác nhắc không được dàn hàng ngang, dốc quân ra đối đầu trực tiếp với nó. Bác nói rất có lý, bởi vì cuối năm 1946, số quân Pháp ở Huế đang bị cô lập. Pháp phải cho quân từ Đà Nẵng ra ứng cứu. Quân ta lúc ấy có dàn hàng ngang ra chặn chúng ở đèo Hải Vân. Ta thua lại kéo về dàn quân ở đèo Phước Tượng, Phú Gia ngăn chặn tiếp. Đùng một cái chúng đổ quân ở cửa Tư Hiền, đánh thúc vào mạng sườn ta và tiến thẳng về Huế. Đồng thời một mũi quân của chúng từ Lào đánh về đường số 9, qua Quảng Trị tụ hội ở Huế. Quả thật, lúc đó quân ta tan tác. Ngôn ngữ lúc bấy giờ gọi là “vỡ mặt trận” là vậy đó. Chiến thuật của mình còn non, đụng đầu với đá không phải chuyện dễ. Bác nhắc lại thất bại ấy, chúng tôi càng thấm thía.

Một đồng chí trong Đoàn thưa với Bác:

- Dạ, chúng tôi đã kiểm điểm rút kinh nghiệm rồi ạ!

Bác nói:

- Bác dặn thế, có ai có ý kiến gì nữa?

Trong Đoàn có đại biểu hỏi:

- Thưa Bác, Mỹ nó giúp Pháp quá nhiều, ngày càng nhiều. Như vậy tương quan lực lượng giữa ta và địch có gì thay đổi không?

Bác cháu ngồi xếp bằng tròn trên nhà. Bác vỗ hai tay vào đùi, thân thiện nhưng rất quyết liệt:

- Không tương, không mắm gì hết, một thằng Mỹ chứ mười thằng Mỹ xâm lược ta cũng đánh.

Bác quay lại bảo anh Võ Nguyên Giáp:

- Chú Văn, ngày mai lên hội trường, chú phải nói lại với Hội nghị vấn đề này. Chứ nghe chừng anh em ta có nhiều người còn mơ hồ lắm đấy.

Chỉ qua một lời nói với địch, Bác kiên quyết biết chừng nào.

Nhưng khi nói về nhân dân, lòng Bác đằm thắm, thẳm sâu. Đó là điều thứ hai Bác căn dặn chúng tôi:

Bác nói: - Trong hoạt động bí mật trước kia, ta dựa vào dân. Bây giờ, chúng ta có chính quyền, có đất nước, chúng ta muốn đánh thắng giặc cũng phải dựa vào nhân dân. Đừng có xa rời nhân dân. Nhất là các chú đừng có làm ông “quan cách mạng”. Khi nào cũng phải nghĩ tới dân, làm gì cũng phải dựa vào dân.

Chỉ ba mươi phút gặp gỡ ngắn ngủi, Bác bảo:

- Bác chỉ dặn thế là hết đấy.

Trong suốt cuộc đời tôi, lúc nào cũng đinh ninh lời Bác dạy. Qua cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, sang cuộc kháng chiến chống Mỹ - ngẫm lại lời Bác càng sâu sắc. Trong tâm trí tôi cứ nghĩ mình phải làm thế nào tu dưỡng bản thân, không xa rời nhân dân và đừng có làm “quan cách mạng”.

Có thể có lúc tôi quan liêu, nóng nảy, có thể có lúc chao chạnh. Nhưng ý nghĩ đó không bao giờ thay đổi vì cứ nghĩ tới nhân dân, cuộc cách mạng của chúng ta còn mang nợ nhân dân rất nhiều.

Tôi nhớ năm 1968 khó khăn biết mấy. Vậy mà một ông già làng của một bản miền núi, trước khi chết, gọi con cháu lại dặn: “Dù lạt muối, đói cơm cũng theo Đảng, đừng theo Mỹ”.

Cũng trong thời gian ấy, khi tôi phụ trách Khu V. Anh Sản về báo cáo tình hình, nói chung phong trào cách mạng ở vùng đồng bào dân tộc rất tốt. Nhưng có điều đáng lo: “Phụ nữ miền núi sinh nở nhiều, nuôi dưỡng được rất ít. Một thống kê nhỏ, ở một xã thôi, một năm sinh chín chục cháu, còn sống chỉ hơn bốn chục”.

Vì sao ư? Vì một lý do hết sức đơn giản thôi: Cuộc sống của đồng bào dân tộc thiếu thốn quá, gian khổ quá!

Vậy mà khi bộ đội đói, cả gia đình trông vào rẫy sắn, cũng đem cho bộ đội luôn. Cha con, ông, bà sống qua ngày bằng hái lượm củ rừng. Thiếu muối thì đốt tranh ăn thay muối. Nhìn thấy hạt muối, mắt sáng ngời. Gặp bộ đội, ngửa tay xin “Cho mình hạt muối, mình bồi dưỡng”. Khổ thế, đói thế vẫn theo cách mạng, làm cách mạng tới cùng.

Đến năm 1974, khi tôi đi kiểm tra tình hình chuẩn bị chiến dịch. Gặp một đoàn dân công đi tải đạn, gùi gạo. Trong đoàn dân công thấy nhiều cháu chỉ chừng mười, mười một, mười hai tuổi thôi. Tôi gọi đồng chí Nguyễn Minh Đức - Chủ nhiệm hậu cần lên hỏi:

- Sao huy động lực lượng dân công lạ lùng thế này?

Anh Đức đáp:

- Nó lớn tuổi cả đấy chứ. Mười chín hai mươi tuổi cả đấy.

Tôi ngỡ ngàng:

- Thế mà mười chín, hai mươi tuổi à?

Anh Đức đáp:

- Đúng thế, tôi không dám nói sai đâu. Tôi đã chọn những em khoẻ cho đi đấy. Báo cáo đồng chí, không cho đi không được. Họ nói: “Tổng tấn công rồi, bọn bay sao không cho tao đi? Thiếu gạo à? Tao đem gạo tao đi ăn, không ăn gạo cách mạng đâu mà sợ?”.   

Nhân dân ta là như thế. Tinh thần cách mạng của nhân dân ta là như thế. Không có dân, không thể làm cách mạng được đâu.

Tôi nhớ trận lụt năm 1950, nước chỉ ngập ba ngày, bộ đội toàn phải ăn gạo thối. Nấu cơm lên rồi phải quạt cho bay hết hôi thối đi. Nhắm mắt mà ăn, ăn để mà sống.

Toàn gạo đồng bào chôn cất dành cho bộ đội cả đấy. Nước ngập không chạy kịp, từng lon gạo góp lại, đưa từ đồng bằng lên. Thời ấy anh em tôi hát bài “Nông dân là quân chủ lực”. Đúng, thời cách mạng của chúng ta là như thế. Không có nhân dân lấy đâu ra quân đội, lấy đâu ra chiến sĩ anh hùng. Phải nhớ “quần chúng làm nên cách mạng” ở ý nghĩa thật sâu sắc ấy.

Nghĩ lại về nhân dân trong suốt quá trình cách mạng càng thấy lời Bác thật là thấm thía “trong hoạt động bí mật trước kia ta dựa vào dân, bây giờ chúng ta có chính quyền, có đất nước, chúng ta muốn đánh giặc cũng phải dựa vào dân”.

Lịch sử đã là nhân chứng cho những tư tưởng cao siêu ấy. Cũng từ năm 1968, mà Bác đã dạy “đừng xa rời nhân dân, nhất là các chú đừng làm ông “quan cách mạng”. Khi nào cũng phải nghĩ tới dân, làm gì cũng phải dựa và dân”.

Cái nhìn xuyên suốt thời gian, bất chấp không gian một cách lạ lùng.

Càng nhớ Bác, càng ngẫm nghĩ, mỗi lời dạy của Bác cho tới tận bây giờ vẫn là kim chỉ nam cho mỗi hoạt động của chúng ta. Đúng như nhân dân ta đã nói: “Lời Bác là lời non nước”.

                                                                                                          


* Trích: “Bác Hồ trong lòng dân Huế”. Thành uỷ Huế. 1990

** Nguyên Ủy viên quân sự - Ủy ban khởi nghĩa tháng 8-1945; Bí thư Khu ủy Trị Thiên Huế 1974-1975; Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên Huế; Chủ tịch Ủy ban quân quản thành phố Huế 1975.



(Theo Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên Huế)



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


  Những bản tin khác:




 Học tập và làm theo lời Bác 

 Tìm kiếm 
Tìm trên trang Bác Hồ với Huế
Tìm bằng Google
 Tìm hiểu về Đảng - Chính phủ 

 Tìm hiểu về Bác Hồ 
 Lời dạy của Bác 
Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ:

Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.
Hồ Chí Minh.
 Huế xưa và nay 






 CA KHÚC VỀ BÁC HỒ 

 THƯ VIỆN VIDEO 

 Liên kết website 
 Thông tin liên hệ 
 Số lượt truy cập 
   Tổng lượt truy cập 608909
    Hiện tại có 1 khách
Trang chủ    ¤   Ý kiến của bạn    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Tải Files Phát triển bởi: Minh Luật Pro