Tin mới:   
Thiếu tướng Dương Bá Nuôi được gặp Bác Hồ năm 1951
13.11.2012 17:00

ĐI GIỮA LÒNG DÂN *

 

 


Đồng chí: Dương Bá Nuôi

Sinh năm: 1922.

Quê quán: Làng Thanh Lương, xã Hương Xuân,

huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.

 

Thiếu tướng Dương Bá Nuôi

 

Tôi biết tên tuổi Nguyễn Ái Quốc từ những năm còn thơ ấu. Người ta đồn rằng Nguyễn Ái Quốc là người làng Thanh Lương, xã Hương Thạnh, huyện Hương Trà. Tôi có người anh trai là Dương Bá Quán, vốn người nho học và ông dượng là Dương Quang Hùng (gia đình dượng là cơ sở của đồng chí Nguyễn Chí Thanh và đồng chí Hoàng Anh sau này). Tuy là dượng cháu nhưng hai ông rất thân với nhau. Dạo đó ông Nguyễn Tất Đạt (Cả Khiêm) làm thầy thuốc, lại kiêm cả nghề thầy địa lý thường lui tới làng tôi và quen biết hai ông. Ông Quán thường kể cho tôi và những người khác nghe về Nguyễn Ái Quốc. Trong chúng tôi những năm 1936-1937 cứ tưởng tượng ra Nguyễn Ái Quốc là một vị thánh, người tài cao, học rộng của dân tộc, sẽ đưa nhân dân ta thoát khỏi cảnh áp bức xiềng gông. Mãi đến sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 mới vỡ lẽ ra rằng Nguyễn Ái Quốc không phải sinh ra và lớn lên ở làng Thanh Lương quê tôi mà quê chính của Người ở huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An và có người anh chính là ông Cả Khiêm.

Tôi lớn lên mang theo những lời kể về Nguyễn Ái Quốc như những huyền thoại và cứ ấp ủ trong lòng những ước mơ: Làm sao gặp được Người! Khi tôi trở thành bộ đội, nỗi ước mơ ấy đã đến. Tôi vinh dự được gặp Bác ba lần, vào những năm 1950, 1953, 1963.

Thu Đông năm 1950, tôi được tham dự một lớp học tại Việt Bắc. Vào một buổi tối sau khi ăn cơm chiều xong, mọi người đang nghỉ ngơi, có kẻng báo hiệu tập trung tại hội trường. Tưởng cũng bình thường như những buổi tập trung khác, có ai ngờ được, lớp vừa tề tựu thì Bác Hồ đột ngột xuất hiện trên hội trường. Như có những luồng điện lan tỏa khắp cơ thể, cả hội trường reo hò Bác Hồ! Bác Hồ! Nhiều đồng chí nhảy lên, xô đẩy chen nhau để vây quanh Bác. Có ai hô lên: Bác Hồ muôn năm! lập tức cả hội trường đồng thanh hô lớn Bác Hồ muôn năm! Ai cũng muốn hô thật to để thể hiện nỗi vui mừng khôn xiết của mình. Nhiều đồng chí trong đó có tôi sung sướng quá rơi nước mắt. Đó là những giây phút đầu tiên khắc sâu mãi trong tim tôi về hình ảnh Bác Hồ.

Các anh lãnh đạo yêu cầu anh em trở lại vị trí để Bác nói chuyện. Bác ra hiệu cho cả lớp trật tự. Đến lúc này tôi mới có dịp ngắm kỹ Bác hơn.

Từ trên cao, giọng Bác ấm áp gần gũi vang lên:

- Trước khi đến đây, Bác đã có nghe các chú phụ trách báo cáo về lớp học. Nội dung Bác đã nghe cả rồi. Hôm nay Bác chả có gì để nói. Bác đến thăm để cháu nào chưa thấy Bác mà chỉ thấy trong ảnh thì Bác cháu ta biết nhau. Bây giờ Bác bắt nhịp bài hát "Kết đoàn" Bác cháu ta cùng hát.

Bằng cử chỉ thân thiết và ấm cúng, khoảng cách giữa Bác và chúng tôi không còn nữa.

Bác bắt nhịp vừa dứt lời, cả lớp đã hát vang “Kết đoàn chúng ta là sức mạnh...”. Tiếng hát vang lẫn tiếng vỗ tay làm vang động cả khu rừng. Sau khi hát xong Bác chỉ căn dặn đôi lời về đoàn kết. Bác nói: “Nhiệm vụ cách mạng của nhân dân ta chống thực dân Pháp là hết sức nặng nề. Muốn giành thắng lợi phải đoàn kết được toàn dân, làm thế nào để dân tin yêu Đảng, đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thành công...”.

Căn dặn xong Bác ra về. Số anh em ngồi hàng trên ùa theo tiễn Bác nhưng Bác đã đi rất nhanh.

Sau khi lớp học kết thúc, tôi được cấp trên chỉ thị ở lại để nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm với đơn vị đàn anh đã có thành tích trong diệt giặc và xây dựng lực lượng. Tôi ở lại một thời gian nhưng ngày ngày nghe tin thắng lợi dồn dập trên các mặt trận, lòng tôi như lửa đốt, nhớ chiến trường, nhớ đồng đội vô cùng. Tôi sợ nhất là phải xa chiến trường Bình Trị Thiên, nơi đó có quê hương tôi, đồng đội đang chiến đấu. Cuối năm 1950 tôi quyết định không báo cáo với cấp trên và trốn trở lại Thừa Thiên, vẫn biết như vậy là sai nhưng không có sự lựa chọn nào khác.

Trên đường về tôi đi rất nhanh, chỉ sợ cấp trên cho người đuổi theo để giữ lại. Về đến nơi mừng quá. Các anh Trần Quý Hai - Tư lệnh, anh Chu Văn Biên - Chính ủy và các anh khác đón tôi trong niềm vui của người lính. Tôi giấu không cho các anh biết là đã trốn về trước thời gian quy định, lúc đó tôi là Tiểu đoàn trưởng. Một thời gian sau phân khu bổ nhiệm tôi giữ chức Trung đoàn phó Trung đoàn 18 kiêm Tham mưu trưởng Trung đoàn. Tôi đi nhận nhiệm vụ mới trong nỗi lo âu và có phần ân hận nữa.

Ra công tác được ít lâu, một hôm bất ngờ anh Chu Văn Biên xuất hiện tại đơn vị. Tôi đoán là có chuyện chẳng lành. Thành ra khi trốn về, ngoài Việt Bắc đã báo điện cho phân khu Bình Trị Thiên biết về việc vô ý thức kỷ luật của tôi.

Anh Biên hỏi: Anh có biết tôi ra đây vì việc gì không? Tôi đã biết tội của tôi rồi. Tôi bình thản trả lời.

Giọng nói và cử chỉ của anh Biên nghe rất nghiêm:

- Bây giờ đồng chí phải làm bản tự kiểm điểm nói rõ việc làm thiếu ý thức chấp hành kỷ luật quân đội và cho phép tự chọn hình thức kỷ luật.

Ngay sau đó tôi đã làm bản tự kiểm điểm và tự xác định hình thức kỹ luật là trở lại làm Tiểu đoàn trưởng. Đó là lý do chủ yếu tôi được đi chỉnh quân. Một điều không hay mà lại thú vị bởi trong dịp ấy tôi lại vinh dự gặp Bác Hồ lần thứ hai.

Đầu năm 1953, tôi lên đường đi Việt Bắc. Trên đường đi tôi lo lắm, vì cái tội tôi trước đây. Ra tới nơi vừa đến cổng trường thì gặp ngay đồng chí Cương, lúc đó là Hiệu trưởng. Tôi và anh đã quen nhau từ năm 1950.

Gặp tôi anh rất vui, hỏi thăm về chiến trường, về sức khỏe, về gia đình. Tôi không thấy anh nhắc gì đến chuyện cũ, tôi rất mừng và trở về lán để chuẩn bị cho học tập.

Một buổi sáng bình thường, giữa buổi học, Bác bỗng nhiên xuất hiện trên hội trường. Cả hội trường reo hò vui mừng đón Bác. Như vậy tôi luôn có cảm tưởng Bác thường tạo ra cho người khác một niềm vui bất ngờ. Phong cách, cử chỉ cũng như trang phục của Bác vô cùng giản dị, gần gũi. Bác chỉ một đồng chí ngồi hàng trên cùng, yêu cầu bắt nhịp bài hát truyền thống của quân đội “Vì nhân dân quên mình"

Cả Bác cháu cùng hát và vỗ tay, tiếng hát dồn dập theo tiếng quân hành.

Vì nhân dân quên mình

Vì nhân dân hy sinh

Anh em ơi, vì nhân dân quên mình....

Bác trên cao đóng vai trò người nhạc trưởng, hai bàn tay Bác uyển chuyển nhịp nhàng.

Tôi quan sát thấy Người khỏe hơn lần trước và rất vui. Sau khi hát xong, Bác nói:

- Các chú là quân đội, quân đội của ai và chiến đấu cho ai và vì ai thì đồng chí Văn đã nói rồi. Qua bài hát mà Bác cháu ta vừa hát, Bác chỉ dặn các chú đôi lời:

- “Vì nhân dân quên mình” là bài hát truyền thống của quân đội, thật ra toàn thể cán bộ, đảng viên trong cũng như ngoài quân đội đều phải thuộc bài hát này, và tất cả đều phải vì nhân dân; sau đó Bác chúc sức khỏe anh em chúng tôi và chúc lớp học thành công. Bác chuyển lời thăm hỏi qua chúng tôi đến cán bộ, chiến sĩ sau khi trở về đơn vị.

Suốt cuộc đời binh nghiệp, kể từ lần chỉnh quân ấy, bài hát đã nhắc nhở tôi bất cứ lúc nào, ở đâu, nhiệm vụ gì cũng phải vì nhân dân.

Tại cuộc gặp mặt nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1989) gồm nhiều thế hệ, chúng tôi những người lính Cụ Hồ đã hát vang bài “Vì nhân dân quên mình”. Hôm đó nhiều đồng chí cảm động, riêng tôi đã khóc vì mỗi lần hát bài hát ấy tôi lại nhớ cái buổi sáng gặp Bác lần thứ hai giữa núi rừng Việt Bắc năm 1953.

Tháng 2 năm 1963, bộ Tổng Tham mưu điện vào Liên tỉnh Trị Thiên Huế cử người ra báo cáo tình hình mọi mặt của chiến trường. Lúc đó Trị Thiên Huế vẫn thuộc khu V nhưng về quân sự thì Trung ương cho phép lập Phân khu Bắc. Anh Nguyễn Húng là Bí thư Liên Tỉnh ủy kiêm Chính ủy Phân khu. Tôi là Trưởng Phân khu, anh Diện (Giang) Phó Phân khu trưởng, anh Vũ Thắng Phó Chính ủy Phân khu. Các anh trong Liên Tỉnh ủy quyết định cử tôi ra Hà Nội.

Rời cơ quan, đi dọc biên giới Lào-Việt đến làng Ho (Quảng Bình) thì có xe của Bộ Tổng Tham mưu đón. Ra đến Hà Nội xe đưa thẳng đến Bộ Quốc phòng, ngay trong thành nội (thời gian này đang còn giữ bí mật). Nghỉ ngơi sau một cuộc hành trình dài, sáng hôm sau tôi đến văn phòng làm việc của Bộ Tổng Tham mưu để báo cáo với đồng chí Văn Tiến Dũng.

Trong phòng có treo nhiều bản đồ khu vực và những bản đồ lớn. Tôi và đồng chí Tổng Tham mưu trưởng gặp nhau, phấn khởi, vui mừng. Trong lúc chúng tôi đang trò chuyện, thăm hỏi thì Bác Hồ xuất hiện. Tôi cũng không kịp reo lên nữa. Hình như Bác đang bận công việc gì rất gấp mà chỉ ghé qua. Tôi thu mình trên ghế chăm chú quan sát Bác.

Bác nói với đồng chí Văn Tiến Dũng:

Trung ương bạn cho biết (chỉ bạn Lào) mình có một số vi phạm về công tác dân vận, chú có biết không?

- Dạ thưa Bác, có biết.

Bác dặn lại:

- Dân ta cũng như dân bạn, nếu như không có sự giúp đỡ của dân thì không làm gì được. Đề nghị chú báo cho Trung ương biết cách giải quyết để Bác yên tâm.

Bác định quay ra thi đồng chí Văn Tiến Dũng thưa:

- Thưa Bác có đồng chí Nuôi ở chiến trường Trị Thiên Huế mới ra để báo cáo tình hình.

- À, hay quá! Bác thốt lên rồi quay lại phía tôi nói:

Hôm nay Bác đang bận, Bác rất muốn nghe tình hình Trị Thiên Huế, Văn phòng sẽ thu xếp và báo cho cháu sau. Bác chúc sức khỏe và chào tôi rồi đi ngay.

Cả ngày hôm đó, tôi làm việc và báo cáo toàn bộ tình hình chiến trường Trị Thiên Huế với đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và đồng chí Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng. Gần cuối giờ chiều Văn phòng Phủ Chủ tịch báo sáng ngày hôm sau Bác sẽ sang nghe tình hình của Trị Thiên Huế.

Từ khi nhận được yêu cầu sẽ báo cáo với Bác, tôi hồi hộp quá. Tôi đã gặp Bác vài lần nhưng chưa bao giờ gặp riêng cả. Bây giờ được gặp thì ăn nói sao đây? Thời gian chỉ còn đêm nay nữa thôi. Tôi xin ý kiến đồng chí Văn Tiến Dũng, gặp Bác thì nói những gì? Có phải chuẩn bị không và nếu chuẩn bị thì phải chuẩn bị như thế nào?

Đồng chí Văn Tiến Dũng khuyên tôi đừng lo, làm việc với Bác rất dễ. Bác sẽ hỏi, biết gì nói nấy, không biết thì nói không biết, cũng không cần phải chuẩn bị gì cả.

Nhận được lời chỉ dẫn đó tôi có phần yên tâm nhưng suốt đêm ấy, tôi vẫn mang tâm trạng vừa vui mừng, vừa lo lắng. Vui vì được gần Bác, được nghe Bác dạy bảo, nhưng lo không nói hết ý hết lời. Tôi nằm thao thức mãi.

Sáng hôm sau tôi đã có mặt trước giờ hẹn của Bác tại phòng làm việc của Tổng Tham mưu trưởng. Đồng chí Văn Tiến Dũng ngồi chờ cùng tôi.

Đúng giờ, Bác qua, có thêm một người đi theo Bác mà sau đó tôi mới biết đó là đồng chí Vũ Kỳ. Bác bước nhanh lên tầng cấp và vào phòng. Chúng tôi đứng dậy đón Bác. Bác vẫy tay cho chúng tôi ngồi xuống và vào chuyện ngay:

- Chú Dũng, chú có thể làm việc, Bác biết chú còn nhiều việc lắm, cứ để Bác với chú Nuôi trò chuyện cũng được.

Đồng chí Văn Tiến Dũng xin phép Bác trở về phòng (không hiểu sao hôm đó đồng chí Vũ Kỳ không vào phòng làm việc).

Tôi hồi hộp quá, nếu có đồng chí Văn Tiến Dũng thì tôi tự nhiên hơn, nhưng chỉ có tôi với Bác, tôi lo quá. Biết tôi đang xúc động mạnh, Bác cười đôn hậu và nói:

- Bác cháu ta nói chuyện một chặp nhé!

Giọng nói ấm áp và cử chỉ thân mật, Bác ngồi xích lại gần tôi để nghe được rõ hơn.

- Cháu có được khỏe không? Bác hỏi.

- Dạ thưa Bác, sức khỏe cháu tốt.

- Bác biết Trị Thiên Huế gian khổ lắm, đi liên tục mà không ốm đau gì cả là tốt.

Bác nhìn tôi một cách trìu mến và nói tiếp:

- Quê cháu ở đâu? gia đình như thế nào?

- Dạ quê cháu ở Thừa Thiên.

- À Thừa Thiên là đất cố đô đó!.

Lúc nói về gia đình, tôi có hơi rụt rè vì tôi vốn là con quan. Tôi mạnh dạn thưa:

- Thưa Bác, cháu là con quan.

Bác ngắt lời và dí dỏm:

- Con quan thì tốt chớ sao. Bác cũng là con quan đấy. Thế đã được gọi là cậu ấm chưa?

- Dạ thưa Bác, ở làng trước đây người ta vẫn gọi cháu là cậu ấm. Bác cười rất tươi và Người vỗ vai tôi nói:

- Trí thức thì đại đa số là yêu nước cả, chỉ có điều người yêu nước cách này, người yêu nước cách khác.

- Cháu học đến đâu rồi? Dạ cháu học đến cấp III và đang học thêm nữa.

Bác khen: Khá đấy nhưng cháu phải học, học nữa đi, tri thức chưa nhiều chưa làm được nhiều việc. Học kiến thức quân sự nhưng phải học thêm kiến thức xã hội nữa kẻo lệch đấy.

Đến lúc này tôi đã lấy được bình tĩnh. Bác nói chiến trường Trị Thiên gian khổ lắm Bác biết rồi, chừ Bác hỏi, cháu biết thì nói không biết thì thôi.

Nhìn bản đồ Bác hỏi: Quân giải phóng ở chỗ nào?

Tôi đứng dậy, chỉ lên bản đồ: Thưa Bác ở đây, quân giải phóng đều ở trên biên giới Lào-Việt thuộc Miền Tây Thừa Thiên.

Bác chăm chú quan sát và hỏi:

- Đóng như vậy có gần dân không?

- Dạ thưa Bác, quân giải phóng luôn luôn gần dân. Bác ngắt lời. Có đều không? Dạ đều, dân chủ yếu là đồng bào dân tộc miền núi phía Tây Trị Thiên như Pa Cô, Vân Kiều, Tà Ôi, nhân dân rất thiết tha với cách mạng, một lòng hy sinh cho cách mạng.

- Ăn sao?

- Dạ thưa, quân giải phóng cũng nhận được chi viện của hậu phương và kết hợp làm nương rẫy nhưng chủ yếu phải dựa vào dân. Kết hợp với săn bắn đủ các loại thịt thú rừng, thịt rắn, nhái, cá và cả thịt chuột nữa.

Bác cười, hẳn là đạm cả, tốt đó và người hỏi tiếp:

- Dân có đóng góp gì không?

- Dạ, ở đồng bằng thì chưa mua và vận chuyển lên được, nhân dân miền Tây Trị- Thiên còn khổ lắm nhưng làm được thứ gì, từ lúa, khoai, bắp, sắn, và gia cầm đều vận chuyển đến trạm xá để nuôi dưỡng thương bệnh binh, cho hết quân giải phóng, họ chủ yếu là ăn sắn.

Tôi thấy Bác ngừng hỏi, liếc mắt sang thấy Người không vui, và Bác khen: Như vậy là các chú biết dân.

- Cháu nói thêm cho Bác nghe về đồn bốt của địch. Tôi đứng dậy, chỉ lên bản đồ tường trình toàn bộ hệ thống đồn bốt của địch bố trí dọc biên giới Việt - Lào phía Tây Trị - Thiên. Bác chăm chú theo dõi và yêu cầu: Cháu mô tả lại các trận đánh vừa qua.

Tôi kể lại một số trận đánh của quân giải phóng và nhân dân đã bao vây đồn bốt địch, với các hầm chông cạm bẫy khắp nơi và đủ thứ vũ khí cô lập cao độ các đồn bốt địch. Khi địch ở dưới đồng bằng lên càn quét thì chúng vô cùng kinh sợ.

Nét mặt Bác vui hẳn, Bác cười và khen: Các chú giỏi, bộ đội giải phóng thì dân nuôi, giặc thì dân đánh, vậy là chiến tranh nhân dân rồi đó.

Bác đứng dậy chỉ lên bản đồ rồi hỏi: Các chú ở đây thì xuống đến đâu? Tôi chỉ cho Bác thấy trước đây là vùng trắng, rồi vùng giáp ranh. Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng là phải xóa vùng trắng, giữ vùng giáp ranh và đưa dân về. Nay đã làm được một bước.

 Bác bất ngờ hỏi tôi: Cháu ra đây bằng đường nào?

- Thưa Bác cháu đi bằng đường này, tôi đứng dậy chỉ con đường trên rừng ở bản đồ.

Bác cười và nói: Cháu đi một mình hay có thêm một giao liên, sao không đi đường này. Bác vừa nói vừa chỉ tay vào bản đồ dọc theo con đường ở đồng bằng.

- Thưa Bác, đi đường đó chưa an toàn.

Bác lại cười và nói: Quân giải phóng, làm cách mạng đi trên xanh là an toàn, đi dưới dân lại không an toàn. Bác nói tiếp: Qua tình hình Bác biết rồi, lần sau có ra thì cố gắng đi đường dưới, đường trong lòng dân cho nhanh và lại an toàn.

Bác hỏi thêm tình hình đồng bằng và thành phố nhưng tôi chỉ báo cáo được ít số liệu, còn nắm không chắc, không cụ thể. Bác nói chưa biết thì thôi.

Gần hết giờ làm việc Bác nói với tôi những lời cuối cùng.

- Cháu đã báo cáo với Bác những điều Bác hỏi. Khi về cháu báo lại với Liên Tỉnh ủy là nhớ xuống gần dân và gần cấp ủy dưới hơn nữa. Bác gửi lời thăm các chiến sĩ, lãnh đạo và chỉ huy, nhớ đến bản nào làng nào thì nói Bác Hồ gửi lời thăm, và lần sau có ra thì nhớ đi đường dưới, chứ đừng đi đường trên... Bây giờ Bác già rồi, nhiều việc cháu ghi lại cho Bác.

Nói xong, Bác đứng dậy chúc tôi sức khỏe và bước nhanh ra phía cửa.

Bác đi rồi mà tôi còn ngẩn ngơ. Suy nghĩ ngay đến cách viết cho Bác đọc, Phải mất ba đêm, viết đi, gọt lại cho thật gọn và súc tích. Bản báo cáo chỉ dài hơn hai trang giấy học trò, nhờ Bộ Tổng chuyển cho Bác.

Tôi trở lại chiến trường Trị Thiên Huế mang theo lời Bác đã dặn và chuyển lời thăm hỏi của Bác đến cán bộ chiến sĩ và đồng bào Trị Thiên Huế.

Thực hiện lời Bác dạy, dưới sự lãnh đạo của Quân Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu V, tháng 7-1964 cả đồng bằng Trị- Thiên nhất tề khởi nghĩa. Đường trong dân đã được khai thông, cách mạng chuyển lên một bước mới hướng đến ngày toàn thắng.



* Trích: “Bác Hồ trong lòng dân Huế” - Thành uỷ Huế. 1990.


>>>> Xem thêm: Ký ức về những lần được gặp Bác của một vị tướng Dương Bá Nuôi



(Theo Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên Huế)



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


  Những bản tin khác:




 Học tập và làm theo lời Bác 

 Tìm kiếm 
Tìm trên trang Bác Hồ với Huế
Tìm bằng Google
 Tìm hiểu về Đảng - Chính phủ 

 Tìm hiểu về Bác Hồ 
 Lời dạy của Bác 
Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ:

Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.
Hồ Chí Minh.
 Huế xưa và nay 






 CA KHÚC VỀ BÁC HỒ 

 THƯ VIỆN VIDEO 

 Liên kết website 
 Thông tin liên hệ 
 Số lượt truy cập 
   Tổng lượt truy cập 737068
    Hiện tại có 1 khách
Trang chủ    ¤   Ý kiến của bạn    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Tải Files