Bác Hồ với Huế - Trường THPT Vinh Xuân http://bachovoihue.com

Bác Hồ và gia đình ở Huế giai đoạn 1895 - 1901
27.08.2011

1. Vài nét về bối cảnh xã hội Huế khi gia đình Bác Hồ vào Huế sinh sống lần thứ nhất (1895 - 1901)

Những năm 1895 - 1901, thực dân Pháp càng siết chặt thêm ách thống trị của chúng đối với nhân dân Việt Nam. Ở Hà Tĩnh sau chiến thắng Vụ Quang, Phan Đình Phùng ốm và mất. Khởi nghĩa Yên Thế ở phía Bắc tiếp tục sôi động nhưng cũng trải qua nhiều khó khăn.

 Vua Thành Thái, ngày 27/9/1897 ra dụ chính thức thừa nhận quyền sở hữu của thực dân Pháp đối với một số tài sản mà chúng chiếm được - dù dưới hình thức nào - ở Trung Kỳ. Rồi ngày 31/07/1898, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh bãi bỏ ngân khố của triều đình Huế; kể từ ngày 01/01/1899, thực dân Pháp trực tiếp nắm quyền thu toàn bộ các loại thuế ở Trung kỳ, cấp phát cả lương bổng cho vua quan nhà Nguyễn.

Trong những năm 1895 - 1901, Thừa Thiên Huế bị mất mùa liên tiếp. Sau hạn hán kéo dài năm 1895, dịch tả hoành hành nhiều nơi vào năm 1896. Tháng 9 năm 1897, Huế lại bị bão lớn, bờ cát trên cửa Thuận An bị bão cuốn san bằng, nước biển dâng cao, nhà cửa sụp đổ nghiêm trọng, đói kém gay gắt.

2. Bác Hồ và gia đình lên đường vào Huế:

Cuối năm 1895, ông Nguyễn Sinh Sắc cùng vợ (bà Hoàng Thị Loan) và hai con trai Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung (con gái đầu lòng là Nguyễn Thị Thanh gửi cho bà ngoại ở quê nhà) lên đường vào Huế.

Thời bấy giờ đối với người dân xứ Nghệ, hai tiếng “vào kinh” bao hàm nhiều nỗi gian truân, cùng với sự lo lắng và cả sự sợ hãi. Đường từ Vinh vào Huế hồi ấy còn là đường đất quanh co, hiểm trở, xuyên rừng vượt núi. Đi đường biển thì nhanh nhưng phải mất nhiều tiền thuê thuyền. Trên tuyến đường bộ, các quan lại cùng vợ con đã có phu trạm phục dịch (khoảng 30 km có 1 trạm). Ông cử Sắc chưa phải là quan, nhà lại nghèo nên để vào Huế, cả gia đình phải nhập vào đoàn đi bộ để nương tựa nhau suốt dặm trường, phòng trộm cướp, hùm beo. Cậu Cung còn nhỏ lúc thì được cha cõng, lúc thì ngồi trong quang gánh của mẹ, lúc thì chạy nhảy trên đường; cùng với khách bộ hành gội nắng, dầm mưa, leo đèo, lội suối; khi lách dưới chân núi hoang sơ, lúc đi trên bãi cát trắng trải dài ven biển, ăn ngủ dọc đường hàng tháng trời ròng rã mới đến kinh đô Huế.

Rời quê hương vào chốn đế đô, cảnh vật, con người, lối sống đều xa lạ với gia đình ông Nguyễn Sinh Sắc. Dưới con mắt ngây thơ của cậu bé Cung, Huế là một thế giới hoàn toàn khác lạ với quê hương làng Hoàng Trù, Nghệ An và những xóm làng trên dọc đường từ Nghệ Tĩnh vào kinh đô Huế. Từ cảnh vật đến cách ăn mặc, xưng hô ở Kinh thành đều khơi gợi tính ham hiểu biết của Nguyễn Sinh Cung: những dãy tường cao ngất vây quanh trong ngoài; những chú lính đội nón nhỏ vành, chân cuốn xà cạp, cầm súng đứng ở cổng thành; những ngôi nhà mái ngói uốn lượn nhiều màu, nhiều kiểu; những cáng có người khiêng, những xe có ngựa kéo... Tất cả đều choáng ngợp, mới mẻ đối với cậu.

Sau khi vượt quãng đường bộ mấy trăm cây số vào tới Huế, gia đình ông Sắc phải nhờ người quen tìm hộ mới thuê được một căn nhà nhỏ nằm trong khu vực Thành Nội (nay là số nhà 112 Mai Thúc Loan - Huế).

3. Cuộc sống của gia đình Bác Hồ tại ngôi nhà Thành Nội và ngôi nhà ở làng Dương Nỗ:

Ngôi nhà nhỏ nằm trong khu vực nội thành vốn trước đây là một trại lính của Nha Hộ thành triều Nguyễn bị bỏ phế lâu ngày, khi triều đình đem chia cho các quan lại thì nó được sửa chữa và đem cho thuê.

Miêu tả lại căn nhà này, nhà thơ Thanh Tịnh sau nhiều lần tiếp xúc với cô Nguyễn Thị Thanh (chị gái Bác Hồ) và quá trình nghiên cứu, tìm hiểu đã viết trong tác phẩm “Đi từ giữa một mùa sen”.

“Ăn nhờ ở đậu lân la

Mới thuê được một gian nhà hướng nam

Xế hiên một gốc mai vàng

Trước sân bông bụt một hàng rào thưa

Bên này nhà chú thợ cưa

Bên kia nhà một viên thừa bộ Binh

Dãy nhà gian ngói bếp tranh

Chênh chênh nhìn phía cổng thành Đông Ba”

Gian nhà tuy chật chội nhưng cũng đủ chỗ cho bà Loan đặt khung cửi và chỗ học hành cho ba cha con.

Tại ngôi nhà này, ông Nguyễn Sinh Sắc ngày ngày đi nghe giảng sách, thức khuya dậy sớm chuyên tâm học hành, bà Hoàng Thị Loan quán xuyến việc gia đình, quay tơ dệt vải, chăm sóc con cái giúp chồng yên tâm học hành. Hai anh em Khiêm, Cung được cha, mẹ hướng dẫn, dạy bảo làm việc nhà, quen với cuộc sống lao động. Nếp sống sinh hoạt gia đình giản dị, thanh bạch, chan hoà tình nhân ái, yêu thương. Những năm tháng sống ở đây cậu bé Nguyễn Sinh Cung đã được học bài học đầu tiên về lòng yêu nước, về nỗi đau của một dân tộc bị mất nước qua lời kể của cha hàng đêm về sự kiện thất thủ kinh đô (23/5/Ất Dậu) và những buổi tham dự lễ cúng tế tại miếu Âm Hồn.

Năm 1898, ông Nguyễn Sinh Sắc thi Hội lần thứ 2 không đỗ, cuộc sống gia đình gặp nhiều khó khăn, được ông Nguyễn Viết Chuyên, nhân viên bộ Hình (người làng Dương Nỗ) giúp đỡ, giới thiệu ông về dạy học ở làng Dương Nỗ (Phú Dương - Phú Vang - Thừa Thiên Huế). Khiêm, Cung cùng đi với cha để ông tiện việc bảo ban học hành, còn bà Hoàng Thị Loan vẫn ở lại ngôi nhà Thành Nội, ngày ngày canh cửi để trang trải mọi sinh hoạt gia đình. Về Dương Nỗ, gia đình ông Sắc được gia chủ là ông Nguyễn Sĩ Độ giành hẳn một ngôi nhà gỗ 3 gian 2 chái, vách ghép ván (là nhà thờ lộc tự họ nhà vợ ông Nguyễn Sĩ Độ) dạy học và sinh hoạt.

Học trò của cụ cử Sắc lúc bấy giờ có hai loại: loại học sinh lớn chuẩn bị thi Hương như Nguyễn Viết Kiến (con ông Chuyên) Nguyễn Sĩ Kính, Nguyễn Sĩ Mại (con ông Độ). Loại học sinh mới như Nguyễn Sĩ Khuyến (con ông Độ).

Nguyễn Sinh Cung lúc bấy giờ đã 8 tuổi, được cụ cử Sắc giao cho Nguyễn Sĩ Khuyến (12 tuổi) kèm học.

Bắt đầu học chữ Hán, Nguyễn Sinh Cung mới tập viết hàng tư, nhưng người học trò nhỏ ấy đã tỏ ra rất thông minh. Sách Luận ngữ 1 tập 8 tờ, 1 tờ 16 hàng, học vài ba lần là có thể xếp sách lại đọc được. Học xong, Cung thường ra Đình làng Dương Nỗ hay xuống Am Bà chơi, hoặc ra câu cá dưới bến.

Được về sống ở làng Dương Nỗ, một làng quê yên ả, thanh bình, giàu truyền thống văn hoá, Nguyễn Sinh Cung có điều kiện hoà nhập với đời sống cộng đồng làng xã, được bao bọc bởi tình cảm yêu thương chan hoà, nhân hậu bao dung của những người dân quê chất phác, thuỷ chung, được chứng kiến cuộc sống lao động cần cù của những người nông dân lam lũ, đời sống đó đã góp phần hình thành nên cội nguồn nhân bản trong tâm hồn Người.

Cuối năm 1900 bà Hoàng Thị Loan sinh người con thứ 4 đặt tên là Nguyễn Sinh Nhuận (hay còn gọi là bé Xin), sau khi sinh bà mang bệnh nặng, ông Sắc phải nghỉ dạy học đem hai con về săn sóc vợ. Trong lúc cảnh nhà gian truân, ông Sắc lại được lệnh đi làm Đề lại ở trường thi Thanh Hoá. Nguyễn Sinh Khiêm đi cùng cha, Cung ở lại chăm sóc cho mẹ và em. Sau khi ông Sắc đi, bà Loan bệnh ngày càng nặng, Cung một mình vừa chăm sóc mẹ vừa nuôi em, nhưng bà Loan vì kiệt sức do lao tâm, lao lực lại bị bệnh hậu sản nên đã lặng lẽ qua đời vào ngày 10.2.1901 (tức 22 tháng Chạp năm Canh Tý) trong nỗi xót xa của gia đình và bà con lối xóm. Ra đi ở tuổi 33 đầy xuân sắc, nhưng cuộc đời của bà không hề ngắn ngủi. Bà đã sống hết mình, để kịp tạo dựng và gửi gắm những ước mơ của mình vào người chồng thân yêu và những đứa con thông minh, hiếu thảo.

Theo luật triều đình lúc bấy giờ, đám tang của dân thường không được đưa qua các cổng thành chính, đặc biệt vào những ngày giáp tết không được khóc. Thi hài bà Loan được bà con lối xóm đưa xuống thuyền qua cống Thanh Long, theo sông Đông Ba, ra sông Hương về sông An Cựu, đến gần ngã ba Giàng Xay thi hài bà được gánh bộ theo đường Ngự Bình và đưa lên mai táng ở triền núi Bân (núi Tam Tầng). Mộ của bà Loan gối đầu lên đỉnh núi Bân, hướng mộ nhìn về phía Tây đất Phật.

Vào những ngày giáp tết, trong khi trẻ con hàng phố nô nức kéo nhau đi chợ tết Đông Ba thì Nguyễn Sinh Cung bế em đi xin sữa. Bé Xin thiếu sữa, không có mẹ có khi gào khóc thất thanh, khiến Cung cũng khóc theo. Tiếng khóc của bé Xin vào những ngày này đã là nỗi đau khó quên trong cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp sau này, hồi ở Việt Bắc, có lúc đang đánh máy chữ, bỗng nghe tiếng trẻ con gào khóc, Bác Hồ đã ngừng tay và gọi đồng chí bảo vệ:”chú sang xem vì sao cháu bé khóc? Thuở bé, Bác cũng có đứa em thường khóc thất thanh như thế”.

Sau khi bà Hoàng Thị Loan qua đời, gia đình ông cử Sắc vừa đau buồn, vừa khó khăn. Không thể sống một mình nuôi con nơi đất khách quê người, ông Nguyễn Sinh Sắc đưa các con trở về Hoàng Trù (Nghệ An) gửi cho nhạc mẫu. Sau đó lại quay trở lại kinh đô dự thi Hội lần thứ 3 năm Tân Sửu.

4. Trường thi - nơi ba lần ông Nguyễn Sinh Sắc thi Hội

Trường thi Thừa Thiên là nơi mang ý nghĩa gắn bó mật thiết với quá trình gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh sống trên đất Huế.

Năm 1895, sau khi không đỗ kỳ thi Hội ở Huế, ông Nguyễn Sinh Sắc quyết định đưa cả gia đình vào Huế sinh sống, mở đầu cho giai đoạn gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh sống ở Huế lần thứ nhất. Năm 1898, ông tiếp tục dự thi lần thứ 2 nhưng vẫn không đỗ. Sau 6 năm sống tại Huế với những gian truân, mất mát, vợ hiền và con thơ đã không còn nữa, ông phải đưa hai con trai về lại quê nhà, sau đó một mình trở lại Huế dự thi Hội lần thứ 3, lần này ông đỗ Phó Bảng. Được triều đình ban cho áo mũ về quê, công thành danh toại mà trong lòng chua xót, bức “ấn tứ ninh gia” được ban tặng, ông đem đặt lên bàn thờ vợ, như để cảm ơn cái nghĩa mà người vợ trẻ đã phải vì ông mà ra đi nơi đất khách quê người.

Sau khi đỗ Phó Bảng, 5 năm sau ông cùng hai con trai (Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tất Thành) vào Huế nhậm chức Thừa Biện Bộ Lễ, đánh dấu thời kỳ lần thứ hai gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh vào Huế sinh sống. 

Trường thi - nơi ông Nguyễn Sinh Sắc ba lần thi Hội khởi thuỷ là một trường thi Hương ở phường Ninh Bắc trong kinh thành Huế được xây dựng từ năm Gia Long 12 (1813). Năm Kỷ Mão (1819) đổi tên trường là Trực Lệ. Năm Ất Dậu, Minh Mạng thứ 6 (1825) trường đổi tên là trường Thừa Thiên, tên này giữ mãi cho đến khoa thi cuối cùng. Từ khoa thi Ất Dậu về sau, cứ 3 năm mở một khoa thi Hương, các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu; và cũng ba năm mở một khoa thi Hội vào các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

Năm Tự Đức thứ 27 (1874) trường thi được chuyển đến làng An Ninh, cạnh chùa Linh Mụ (Đức Khổng). Năm Kiến Phúc lại dời ra làng La Chữ huyện Hương Trà. Nhưng sau một cuộc nổi dậy của thí sinh để phản kháng sự bất công của các vị quan chấm thi vào năm 1894 (Thành Thái thứ 6) đã gây hậu quả nghiêm trọng, trường thi được dời hẳn vào khu vực Tây Nghị trong kinh thành và ở đó cho đến khoa thi cuối cùng.

---------------------------

Sưu tầm từ website " Bác cùng chúng cháu hành quân" của Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên Huế.



URL của bản tin này::http://bachovoihue.com/modules.php?name=News&op=viewst&sid=69

© Bác Hồ với Huế - Trường THPT Vinh Xuân contact: bachovoihue@yahoo.com